vanban.org

Bản án 19/2017/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng dịch vụ

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 10/08/2017 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấ p nhậ n kh áng cáo của ông Mai Phúc A và kháng cáo của bà Trầ n Thị Đ để giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 03/2017/DS - ST ngày 09 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân thà nh phố Đồ ng Hớ i, tỉnh Quảng Bình.

Không chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của ông Mai Phúc A đối với Tổng công ty Điện lực M về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại, tổn thất tinh thần, yêu cầu xin lỗ i công khai và phạt hợp đồng. Về á n phí : Buộ c ông Mai Phú c A phải chị u 2.574.000 đồ ng á n phí dân sự sơ thẩ m và 300.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng dịch vụ — án dân sự — "Tranh chấp Hợp đồng mua bán điện."
  • Tòa quyết gì? Không chấ p nhậ n kh áng cáo của ông Mai Phúc A và kháng cáo của bà Trầ n Thị Đ để giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 03/2017/DS - ST ngày 09 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân thà nh phố Đồ ng Hớ i, tỉnh Quảng Bình.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 427 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2017/DS - PT
Ngày 10 - 8 - 2017
V/v tranh chấ p Hợp đồng
mua bá n điệ n.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phú c thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Nguyễn Văn Nghĩa

Các Thẩ m phá n:

Ông Trầ n Hữ u Sỹ

Bà Từ Thị Hải Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoà ng Thị Thuỷ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình: Bà Trầ n Thị Tuyế t Nhung - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 10 tháng 8 năm 2017, tại phòng xét xử án dân sự Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, xét xử phú c thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2017/TLPT - DS ngày 19 tháng 6 năm 2017, về tranh chấ p hợ p đồ ng mua bá n điệ n , theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 576/2017/QĐ - PT ngày 18 tháng 7 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Mai Phúc A, sinh năm 1954

Địa chỉ cư trú : Số 94, đường L, tổ dân phố 5(nay là tổ dân phố Đ), phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

Đại diện theo uỷ quyền: Bà Trần Thị Đ (tên gọi khác Trần Thị Anh Đ), theo văn bản uỷ quyền ngày 30/6/2016

Địa chỉ cư trú : Số 94, đường L, tổ dân phố 5(nay là tổ dân phố Đ), phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

- Bị đơn: Tổng công ty Điện lực M

Địa chỉ: Số 78A Duy Tân, quận H, thành phố Đ

Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Đình N- Tổng giám đốc, vắ ng mặ t.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc T - Giám đốc Điện lực Đ, theo văn bản uỷ quyền số 5997/UQ - EVNCPC ngày 28/7/2017

Địa chỉ: Đường Trần Quang Khải, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

Ngườ i bả o vệ quyề n và lợ i í ch hợ p phá p củ a bị đơn : Ông Lê Minh T – Luậ t sư, Văn phò ng luậ t sư H, thuộ c Đoà n luậ t sư tỉ nh Quả ng Bì nh, có mặt.

- Ngườ i khá ng cá o: Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1973 là người đại diện theo uỷ quyề n củ a ông Mai Phú c A, sinh năm 1954

Địa chỉ cư trú : Số 94, đường Lê Lợi, tổ dân phố 5 (nay là tổ dân phố Đ), phường Hải Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên toà của các đương sự, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 22 tháng 11 năm 2006 ông Mai Phúc A và Công ty điện lực 3 (nay là Tổng công ty điện lực M thông qua đơn vị được uỷ quyền là Điện lực Đ ký kết hợp đồng mua bán điện số 06/114332 thời gian thực hiện hợ p đồ ng là 5 năm kể từ ngà y ký và được gia hạn thêm 5 năm nếu hai bên không có yêu cầu sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng. Theo nguyên đơn thì trong quá trình thực hiện hợ p đồng bên bán điện là Tổng công ty điện lực M mà đại diện theo uỷ quyền là Điện lực Đ đã có nhiề u hành vi vi phạm hợp đồng như ngừng bán điện không có lý do chính đáng, cố ý ghi và tính sai chỉ số thực dùng, khi tiến hành treo tháo hệ thống đo đếm điện (công tơ) đều không thông báo trước với bên mua điện, không giao trả biên bản treo tháo, không chốt số điện thực tại với bên mua điện; bên bán điện ghi số điện hàng tháng không theo ngày, giờ nhất định (vi phạm điều 5 của Hợp đồng); bên bán điện đã lợi dụng phương tiện kỹ thuật để nhân hệ số của toàn bộ hệ thống đo đếm điện của đồng hồ điện tử gây thiệt hại cho bên mua điện; vi phạm chế độ kế toán thống kê, thu phí đóng cắt không đúng lý do thực tế, cố ý ghi sai số điện thực dùng của bên mua điện để thu tiền không đúng quy định. Vì vậ y, ông Mai Phúc A khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộ c Tổng công ty điện lực M bồi thường các thiệt hại với số tiền 102.265.429 đồng và xin lỗi công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng (VTV1 và hệ thống phát thanh của phường nơi gia đình cư trú).

Bị đơn Tổng công ty điện lực M do người đại diện theo uỷ quyền là Giám đốc Điện lực Đ thừa nhận trong quá trình thự c hiệ n hợ p đồ ng bị đơn đã có một số thiếu sót như tháo lắp đồng hồ đo đếm điện chưa có ký xác nhận của khách hàng trong biên bản treo tháo; việc ghi chỉ số đồng hồ không đúng một ngày nhất định trong tháng (theo giải thích của đại diện bị đơn thì những lần trên đều trùng vào ngày nghĩ lễ , tết nên không thể thực hiện vào ngày nhất định). Những sai sót này của cán bộ phía Điện lực hết sức cầu thị, nên đã trực tiếp và có văn bản thừa nhận khuyết điểm và đã xin lỗi khách hàng Mai Phúc A. Tuy nhiên, việ c ngừng cung cấp điện là do nguyên đơn không thanh toá n tiề n mua điệ n theo quy đị nh mặ c dù đã được thông báo về việc trả tiền điện(quy định tại khoản 2 Điều 6 của Hợp đồng mua bán điện).

Các nội dung khác như nghi ngờ công tơ điện chạy không chính xác, sản lượng điện ghi trên hoá đơn không đúng với thực tế tính toán của gia đình là không có cơ sở. Phía Điện lực đã thực hiện đầy đủ các quy trình đúng quy định của pháp luật trong việc thực hiện Hợp đồng mua bán điện đối với hộ gia đình. Do đó, bị đơn không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2017/DS - ST ngày 09 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân thà nh phố Đồ ng Hớ i đã quyết định: Áp dụng các Điều 122, 124, 401, 402, 405, 412, 422 Bộ luật dân sự 2005; Khoản 5, Khoản 14 Điều 3; Điều 22, 23, 24, 25, 27, 46 Luật điện lực; Pháp lệnh về án phí, lệ phí Toà án. Không chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của ông Mai Phúc A đối với Tổng công ty Điện lực M về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản, tổn thất tinh thần, yêu cầu xin lỗ i công khai và phạt hợp đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên buộc ông Mai Phú c A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo bản án cho các đương sự.

Ngày 23 tháng 5 năm 2017 ông Mai Phú c A và bà Trần Thị Đ (bà Đ được ông Mai Phú c A uỷ quyền) kháng cáo với nội dung: Yêu cầ u cấ p phúc thẩm buộc bị đơn phải bồi thường thiệt hại về vật chất cho nguyên đơn số tiền 102.265.429 đồng, phạt vi phạm hợp đồng mua bá n điệ n theo Điề u 8 Hợ p đồ ng đã ký kết, buộ c bồ i thườ ng tổ n thấ t tinh thầ n bằ ng 30 tháng lương cơ bản và Tổng công ty điện lực M xin lỗi công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng (VTV1 và hệ thống phát thanh của phường nơi gia đình cư trú).

Tại phiên tòa phúc thẩm bà Trần Thị Đ là người đạ i diệ n theo uỷ quyề n củ a nguyên đơn vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện và đơn kháng cáo . Các bên đương sự không thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm các đương sự và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử không chấ p nhậ n khá ng cá o củ a nguyên đơn và giữ nguyên bả n á n sơ thẩ m.

Sau khi xem xét nội dung kháng cáo, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; kết quả tranh luận, ý kiến của kiểm sát viên; nguyên đơn, bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Ngày 25 tháng 5 năm 2017 Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới nhận được đơn kháng cá o củ a bà Trầ n Thị Đ và đơn kháng cáo của ông Mai Phú c A đề ngày 23/5/2017 đố i vớ i Bả n á n số : 03/2017/DS – ST ngà y 09/5/2017 của Toà á n nhân dân thà nh phố Đồ ng Hớ i . Hộ i đồ ng xé t xử thấ y đơn kháng cáo của ông Mai Phúc A và đơn kháng c áo của bà Trần Thị Đ đều làm trong hạ n luậ t đị nh và đúng quy định tại Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự . Tuy nhiên, ông Mai Phú c A không nộ p tiề n tạ m ứ ng á n phí khá ng cá o theo thông bá o củ a Toà á n, căn cứ khoản 2 Điề u 276 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ông Mai Phú c A đượ c coi là từ bỏ việ c khá ng cá o nên Hộ i đồ ng xé t xử phú c thẩ m không chấ p nhậ n đơn kháng cáo của ông Mai Phúc A . Đối với đơn kháng cá o củ a bà Trần Thị Đ đượ c ông Mai Phú c A uỷ quyền và đã nộ p tạ m ứ ng á n phí khá ng cáo tại Biên lai số 0000029 ngày 05/6/2017 của Chi cục thi hà nh á n dân sự thà nh phố Đồ ng Hớ i nên chấ p nhậ n để xé t xử phú c thẩ m.

Đối với Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củ a bị đơn: Trong thờ i gian Tòa án cấ p phú c thẩ m thụ lý vụ á n và ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị đơn không có thủ tục yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Tuy nhiên, ngày 28/7/2017 Tòa án nhận được hồ sơ của bị đơn yêu cầu Tòa án chấp nhận Luậ t sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn , tại phiên tòa đạ i diệ n theo uỷ quyề n củ a bị đơn vẫn yêu cầu Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Căn cứ khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án chấp nhận để các Luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của bị đơn.

Về nội dung: Việ c nguyên đ ơn khở i kiệ n và khá ng cá o cho rằ ng ngà y 12/8/2008 và ngày 12/12/2011 Điệ n lự c Đ đã tự ý thay đổ i hệ thố ng đo đế m không thông bá o trướ c cho bên mua điệ n , không giao trả biên bả n treo thá o hệ t hống đo đếm, không chố t số điệ n thự c tạ i vớ i bên mua điệ n nên đã vi phạm hợp đồng và gây thiệ t hạ i cho bên mua điệ n , vì thế phải bồi thường. Hộ i đồ ng xé t xử thấ y, việ c thông bá o và thay đổ i thiế t b ị đo đếm của bị đơn đã thực hiện đú ng quy đị nh , nhưng việ c giao trả biên bả n chố t số điệ n thự c dù ng và biên bả n treo thá o hệ thố ng đo đế m của bị đơn đối với nguyên đơn chưa đú ng thờ i gian cam kế t. Tuy nhiên, vi phạm của bị đơn chưa gây thiệt hại về vật chấ t cho nguyên đơn , hơn nữ a tạ i đơn kháng cáo và tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn không chứ ng minh đượ c thiệ t hại thực tế của mình do bị đơn đã gây ra như thế nào và thiệt hại cụ thể với số tiền là bao nhiêu nên không có cơ sở xem xé t . Mặ t khá c, theo quy đị nh tại Điều 427 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm; Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là ba năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết và phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, theo đó thờ i hiệ u khở i kiệ n các nội dung vi phạ m hợ p đồ ng mua bá n điệ n nêu trên của nguyên đơn đã hế t. Vì vậy, Toà án cấ p phú c thẩ m không chấ p nhậ n nộ i dung khá ng cá o nà y củ a nguyên đơn.

Đối với nội dung kháng cáo nêu ngày 01 tháng 12 năm 2016 Điệ n lự c Đ tự ý treo thá o hệ thố ng đo đế m(công tơ) vớ i cá c số liệ u thông tin không đầ y đủ và trùng khớp giữa biên bản treo tháo thiết bị đo đếm và biên nhận thanh toán tiền điệ n, Hộ i đồ ng xé t xử thấ y : Đây là nộ i dung khá ng cá o vượ t quá phạ m vi k hở i kiệ n(đơn khở i kiệ n không có nộ i dung nà y) và chưa đượ c Toà á n cấ p sơ thẩ m giả i quyế t, theo quy đị nh tạ i Điề u 293 Bộ luậ t tố tụ ng dân sự thì không thuộ c phạm vi xét xử phúc thẩ m nên không chấ p nhậ n nộ i dung khá ng cá o này của nguyên đơn.

Về kháng cáo của nguyên đơn yêu cầ u bị đơn phả i bồ i thườ ng thi ệt hại vật chất số tiề n 102.265.429 đồ ng do ngừ ng bá n điệ n không có lý do , ghi sai chỉ số đồ ng hồ , ghi chỉ số điệ n không cố đị nh mộ t ngà y trong thá ng, các thiệt hại do mấ t thờ i gian đi kiệ n và thuê luậ t sư thấ y: Sau khi nhậ n đượ c đơn kiế n nghị của gia đì nh ông Mai Phú c A ngành điện lực các cấp đã thành lập các Đoà n kiể m tra, giải quyết đơn kiế n nghị (việ c kiểm tra, giải quyết có đại d iệ n gia đì nh ông Mai Phúc A tham gia) và đã xác định Điệ n lự c Đ đã thự c hiệ n đú ng hợ p đồ ng. Cụ thể, việ c ngừ ng cấ p điệ n là do phí a nguyên đơn đã đượ c thông bá o phải trả tiền sử dụng điện nhiề u lầ n nhưng nguyên đơn không thanh toá n , mặ t khá c trướ c lú c ngừ ng cấ p điệ n bị đơn đã thông bá o bằ ng văn bả n cho nguyên đơn , việ c ngừ ng cấ p điệ n của bị đơn đã thực hiện đú ng khoản 2 Điề u 6 của Hợ p đồ ng mua bá n điệ n do hai bên đã ký kế t; việ c không ghi chỉ số điệ n năng mộ t ngà y cụ thể trong tháng là do các ngày cụ thể trong thá ng trùng với ngày nghĩ lễ, tế t nên không thể thự c hiệ n đượ c, điề u nà y phù hợ p vớ i quy đị nh tạ i Điề u 5 Hợ p đồ ng mua bán điện (BL 38); về thiế t bị đo đế m điệ n đượ c cá c Đoà n kiể m tra xác định thiết bị đú ng theo quy chuẩ n không có ghi sai lệ ch chỉ số điện; về hoá đơn tiề n điệ n không ghi sai lệ ch chỉ số điệ n năng nguyên đơn đã dù ng . Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợ p đồ ng phí a bị đơn vẫ n có mộ t số vi phạ m hợ p đồ ng nhưng nhữ ng vi phạ m đó không gây thiệ t hạ i về vậ t chấ t cho nguyên đơn. Hơn nữ a, nguyên đơn kháng cáo yêu cầ u bồ i thườ ng do vi phạ m hợ p đồ ng nhưng không cung cấ p đượ c cá c tà i liệ u, chứ ng cứ để chứng minh phía bị đơn đã gây thiệt hại vật chất cho nguyên đơn để Toà án cấp phúc thẩm xem xét . Mặt khác, tại đơn kháng cáo và tại phiên toà nguyên đơn yêu cầ u bị đơn phả i bồ i thường thiệt hại số tiề n 102.265.429 đồ ng nhưng không nêu rõ các thiệ t hạ i cụ thể do nhữ ng vi phạ m nà o củ a bị đơn gây ra và số tiền cụ thể của từng vi phạm là bao nhiêu nên Toà án cấp phúc thẩm không có căn cứ xem xét.

Việ c nguyên đơn kháng cáo yêu cầ u phạt vi phạm hợp đồng, buộ c bị đơn phải bồ i thườ ng tổ n thấ t tinh thầ n bằ ng 30 tháng lương cơ bả n và công khai xin lỗ i trên thông tin đạ i chú ng (VTV1 và trên loa phát thanh của phường nơi nguyên đơn cư trú ) thấ y: Nguyên đơn yêu cầ u phạ t vi phạ m hợ p đồ ng theo Điề u 8 của hợp đồ ng do cá c hà nh vi vi phạ m củ a bị đơn nhưng trong đơn khá ng cá o và tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn không nêu rõ yêu cầ u phạ t như thế nà o và số tiề n cụ thể là bao nhiêu nên không có căn cứ để xem xét . Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thầ n và buộ c công khai xin lỗ i củ a nguyên đơn thấ y quá trình thực hiện Hợp đồ ng mua bán điện phía bị đơn đã thự c hiệ n đú ng hợp đồng, không có lỗ i vi phạ m nghiêm trọ ng phải bồi thường về vật chất và thực tế nguyên đơn không chứ ng minh đượ c thiệ t hạ i cụ thể củ a mì nh nên không có căn cứ để bu ộc bị đơn phải bồ i thườ ng tổ n thấ t tinh thầ n và phả i c ông khai xin lỗ i trên phương tiệ n thông tin đạ i chúng theo yêu cầ u củ a nguyên đơn.

Từ nhữ ng nhậ n đị nh trên, Hộ i đồ ng xé t xử phú c thẩ m thấ y không có căn cứ để chấ p nhậ n khá ng cá o củ a bà Trầ n Thị Đ là người đại diện theo uỷ quyền củ a nguyên đơn Mai Phú c A để giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 03/2017/DS - ST ngày 09 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân thà nh phố Đồ ng Hớ i.

Về án phí: Do khá ng cá o củ a nguyên đơn không đượ c cấ p phú c thẩ m chấ p nhậ n nên n guyên đơn phả i chị u 300.000 đồ ng á n phí dân sự phú c thẩ m . Bị đơn không phả i chị u á n phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điề u 272, Điề u 273, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điề u 429 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 122, Điề u 124, Điề u 401, Điề u 402, Điề u 405, Điề u 412, Điề u 422 và Điều 427 Bộ luật dân sự 2005; khoản 5 và khoản 14 Điều 3; Điều 22, Điề u 23, Điề u 24, Điề u 25, Điề u 27 và Điều 46 Luật điện lực; khoản 3 Điề u 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án năm 2009; khoản 1 Điề u 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quố c Hộ i quy đị nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nộ p, quản lý, sử dụ ng á n phí và lệ phí Toà án.

1. Không chấ p nhậ n kh áng cáo của ông Mai Phúc A và kháng cáo của bà Trầ n Thị Đ để giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 03/2017/DS - ST ngày 09 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân thà nh phố Đồ ng Hớ i, tỉnh Quảng Bình.

2. Không chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của ông Mai Phúc A đối với Tổng công ty Điện lực M về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại, tổn thất tinh thần, yêu cầu xin lỗ i công khai và phạt hợp đồng.

3. Về á n phí : Buộ c ông Mai Phú c A phải chị u 2.574.000 đồ ng á n phí dân sự sơ thẩ m và 300.000 đồ ng á n phí dân sự phú c thẩ m nhưng đượ c trừ 1.487.000 đồ ng tiề n tạ m ứ ng á n phí tiề n tạ m ứ ng á n phí đã nộ p tạ i biên lai số

0001607 ngày 05/7/2016 và 300.000 đồ ng tiề n t ạm ứng án phí phúc thẩm đã nộ p tạ i biên lai số 0000029 ngày 05/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới , tỉnh Quảng Bình.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhậ n:

Cỡ chữ