vanban.org

Bản án 902/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật thi hành án dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Tuyên xử vắng mặt đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu K. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Luật thi hành án dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 902 /2020/HNGĐ-ST
Ngày: 22/9/2020
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Trần Thị Thúy Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Năm

Ông Đoàn Văn Rỹ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tuyền – Thư ký Tòa án.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Bà Dương Thị Thanh Nhàn – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 767/2019/TLST-HNGĐ ngày 15/7/2019 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 17/8/2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 136 /2020/QĐST-HNGĐ ngày 04/9/2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm: 1987.

Địa chỉ: Xã B , Huyện M , Tỉnh Bến Tre.

(Có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu K, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Số S, Đường B, Khu dân cư L, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện nộp ngày 04/7/2019, biên bản tự khai ngày 30/8/2019, các biên bản không tiến hành hòa giải được ngày 29/5/2020, ngày 15/7/2020 cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ ông Nguyễn Văn B trình bày:

Ông B và bà Nguyễn Thị Thu K chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2012 tại Ủy ban nhân dân phường X, quận Y, thành phố Hồ Chí Minh. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, cách sống khác nhau nên vợ chồng cãi nhau thường xuyên, cuộc sống gia đình không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn dù gia đình hai bên đã hòa giải nhiều lần, bà K dẫn con về nhà cha mẹ ruột sống nên ông B và bà K đã tự ly thân. Tình cảm vợ chồng không còn nên ông B yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà K.

Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng B sinh ngày 01/10/2013. Ông B đồng ý giao con chung cho bà K được trực tiếp nuôi dưỡng, xin tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông B tự khai không có.

Về nợ chung: Ông B tự khai không thiếu nợ gì của ai.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu K đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt nên Toà không thu được lời khai và không hoà giải được.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8: Bà Dương Thị Thanh Nhàn phát biểu: Thẩm phán đảm bảo đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng trong quá trình xét xử vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn do mâu thuẫn vợ chồng quá trầm trọng không thể hàn gắn, giao con chung Nguyễn Hoàng B sinh ngày 01/10/2013 cho bà Nguyễn Thị Thu K trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho ông Nguyễn Văn B. Tài sản chung: không có, nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Toà án:

Ông Nguyễn Văn B có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với bà Nguyễn Thị Thu K nên đây là tranh chấp hôn nhân gia đình, do bị đơn có nơi cư trú tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 36 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã triệu tập bà Nguyễn Thị Thu K nhiều lần để lấy lời khai và hòa giải nhưng bà K đều vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 171, 172, 173, 174, 177, 179 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bà K đều vắng mặt tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Ngày 17/8/2020 ông Nguyễn Văn B có Đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án ly hôn giữa ông và bà Nguyễn Thị Thu K. Do ông B ở xa và đi làm bận rộn nên không thể đến tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn.

Do đó Hội đồng xét xử áp dụng thủ tục xét xử vắng mặt tất cả nhưng người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự:

Xét thấy, ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị Thu K chung sống với nhau năm 2012, có đăng ký kết hôn số 60 quyển số 01/2012 ngày 06/4/2012 tại Ủy ban nhân dân phường X, quận Y, thành phố Hồ Chí Minh. Nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, nay ông B yêu cầu được ly hôn là có căn cứ cần chấp nhận giải quyết vì phù hợp với khoản 1 Điều 51 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Tại đơn khởi kiện và biên bản tự khai ngày 30/8/2019, ông B yêu cầu được ly hôn với bà K. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn gia đình phát sinh là do bất đồng quan điểm sống, cách sống khác biệt, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt và cách suy nghĩ trong cuộc sống gia đình. Mâu thuẫn gia đình phát sinh ngày càng trầm trọng, kéo dài không thể hàn gắn được, làm ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng. Cuộc sống gia đình không hạnh phúc nên bà K đã tự bỏ về nhà cha mẹ ruột.

Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà K đến Tòa hòa giải nhưng bà K vẫn cố tình không đến Tòa để hòa giải, chứng tỏ bà K không còn tha thiết muốn duy trì mối quan hệ hôn nhân với ông B , vì vậy yêu cầu của ông B là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 và Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét về con chung: Ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị Thu K có một con chung tên Nguyễn Hoàng B sinh ngày 01/10/2013 hiện do bà K đang trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử nhận thấy để đảm bảo lợi ích, điều kiện sống, sinh hoạt ổn định của con chung, xét việc ông B đồng ý giao con chung cho bà K được trực tiếp nuôi dưỡng, xin tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con không trái pháp luật và phù hợp với quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên có căn cứ cần chấp nhận.

Ông B được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của trẻ theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, hoặc những người theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Xét về tài sản chung: Ông B tự khai tài sản chung không có nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

Về nợ chung: Ông B tự khai xác nhận không thiếu nợ ai nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Về án phí:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Luật phí, lệ phí ngày và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì ông B phải chịu toàn bộ án phí ly hôn là 300.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị Thu K không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 28, 35, 36, 39, 147, 171, 172, 173, 174, 177, 179, 227, 228, 238, 266, 271, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

- Các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Luật thi hành án dân sự;

- Căn cứ Luật phí, lệ phí;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

1. Tuyên xử vắng mặt đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu K.

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn B ly hôn bà Nguyễn Thị Thu K.

Về con chung: Ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị Thu K có một con chung tên Nguyễn Hoàng B sinh ngày 01/10/2013. Giao trẻ Nguyễn Hoàng B cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho ông B cho đến khi bà K có yêu cầu.

Ông B được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của trẻ theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, hoặc những người theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông B tự khai tài sản chung không có nên tòa không xem xét.

Về nợ chung: Ông B tự khai xác định không thiếu nợ ai nên tòa không xem xét.

Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

2. Án phí :

Án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng ông Nguyễn Văn B phải chịu nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 ( ba trăm ngàn ) đồng theo biên lai thu số 0019981 ngày 11/07/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Ông B đã nộp đủ án phí

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú để yêu cầu Toà án nhân dân TP Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ