- Tranh chấp gì? "Đ - cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Hữu Đ;
- Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hàn…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 90/2026/QĐ-TA | Đồng Nai, ngày 13 tháng 5 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Lê Thị Tám.
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Tấn Thành.
Ngày 14 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Nai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với hồ sơ thụ lý số: 93/TB-TLHS ngày 04 tháng 5 năm 2026, theo Quyết định mở phiên họp số: 84/QĐ-TA ngày 07 tháng 5 năm 2026, đối với:
Họ và tên: Bùi Hữu Đ; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 25 tháng 8 năm 1992; Căn cước công dân số: 075092016920; do Bộ Công an cấp; Nơi cư trú: K3/114, khu phố B5, phường B , thành phố Đ ; Nơi ở hiện tại: Sống lang thang tại Bờ đê Thuỷ sản thuộc tổ 78, khu phố Tân Vạn 4, phường B , thành phố Đ ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Tiền án: Không có; Tiền sự: Không có; Con ông Bùi Văn Đực, sinh năm 1963 và bà Ngô Thị Hoa, sinh năm 1966.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Vũ Trọng Tuấn – Phó Trưởng Công an phường B , thành phố Đ .
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đồng Nai tham gia phiên họp: Bà Phan Thị Mai - Kiểm sát viên.
(Bùi Hữu Đ vắng mặt tại phiên họp).
NHẬN THẤY:
Theo hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Công an phường B , thành phố Đ lập và diễn biến tại phiên họp thể hiện:
Bùi Hữu Đ là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 16/03/2026, tại Lò ông Bảy Của, tổ 73, khu phố T4, phường B , tỉnh Đ (nay là Lò ông Bảy Của, tổ 73, khu phố T4, phường B, thành phố Đ), Công an phường B kiểm tra phát hiện Đ dương tính với chất ma túy và lập Biên bản vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 17/03/2026, Trạm y tế phường B xác định Đ có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là ma túy đá Methamphetamine. Tại Biên bản về việc đăng ký hình thức cai nghiện ngày 17/03/2026 thể hiện: Cơ quan Công an đã hướng dẫn đăng ký cai nghiện ma túy và các hình thức cai nghiện tự nguyện nhưng đương sự không chấp hành. Ngày 17/03/2026, Công an phường B , tỉnh Đ (nay là Công an phường B , thành phố Đ ) đã ban hành Quyết định số 113/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Hữu Đ và ban hành Thông báo số 23/TB-CAP ngày 17/03/2026 đối với Bùi Hữu Đ về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Cơ sở cai nghiện ma tuý số 1, thành phố Đ quản lý Đ trong thời gian làm thủ tục, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc đối với Đ .
Ngày 03/04/2026, Công an phường B , thành phố Đ có Văn bản số 156/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma tuý bắt buộc đối với Bùi Hữu Đ tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số 2, thành phố Đ .
Tại phiên họp:
+ Ý kiến của Cơ quan đề nghị Công an phường B , thành phố Đ : Đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Hữu Đ thời hạn từ 18 đến 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số 2, thành phố Đ ; Địa chỉ: Ấp 4, xã P, thành phố Đ .
+ Ý kiến của người bị đề nghị: Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Bùi Hữu Đ vắng mặt tại phiên họp nên không có ý kiến trình bày.
+ Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính:
Việc lập hồ sơ cũng như quy trình đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Hữu Đ đảm bảo chặt chẽ, đúng quy định. Từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp, Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định tại Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Người bị đề nghị được đảm bảo quyền, nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 14 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Hữu Đ thời hạn từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng.
XÉT THẤY:
Hồ sơ đề nghị đưa Bùi Hữu Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được Công an phường B , thành phố Đ lập đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các Điều 41, 42 và 43 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.
Căn cứ vào hồ sơ đã được xác minh làm rõ, Bùi Hữu Đ là người trên 18 tuổi, đang nghiện ma túy và có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, được cơ quan có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy. Công an phường B , thành phố Đ đã lập Biên bản vi phạm hành chính đối với Đ và hướng dẫn đăng ký cai nghiện ma túy, các hình thức cai nghiện tự nguyện nhưng Đ không chấp hành nên đã vi phạm điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Do đó, Bùi Hữu Đ thuộc đối tượng bị áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều Luật xử lý vi phạm hành chính, khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy và khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Hữu Đ là nguy hiểm cho xã hội, tuy không phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Ma túy là chất gây nghiện, không chỉ hủy hoại sức khỏe của bản thân người sử dụng mà còn ảnh hưởng đến gia đình và cộng đồng xã hội, là nguyên nhân gia tăng hành vi tội phạm cũng như các tệ nạn xã hội khác. Bản thân Đ nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý sử dụng. Do đó, để tạo điều kiện cho Đ cai nghiện ma túy, trở thành người có ích cho xã hội thì việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Hữu Đ là cần thiết.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp, xét thấy việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Hữu Đ tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy số 2 thành phố Đ của Công an phường B , thành phố Đ là có cơ sở và đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
Áp dụng Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 103 và khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017 và 2020); Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Hữu Đ;
Cơ sở tiếp nhận ban đầu: Cơ sở điều trị nghiện ma túy số 2 thuộc Công an thành phố Đ ; Địa chỉ: Ấp 4, xã Phước Thái, thành phố Đ .
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị áp dụng Bùi Hữu Đ có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
Cơ quan đề nghị Công an phường B , thành phố Đ có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đồng Nai có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an phường B , thành phố Đ đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng; - VKSND Khu vực 1 - Đồng Nai; - UBND, Công an phường B ; - Cơ sở điều trị nghiện ma túy số 2, Thành phố Đ ; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Lê Thị Tám |