vanban.org

Bản án 90/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Tiến N phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Đặng Tiến N đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 07/8/2026. Giao bị cáo Đặng Tiến N cho Đ, tỉnh Lâm Đồng quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu bị cáo thay đổi chỗ ở thì thực hiện theo quy định tại Điều … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Tiến N - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Tiến N phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Thông tư số 22/2019/TT-BYT quy định tỷ lệ phần trăm tổn thươ…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2026/HSST
Ngày 07/8/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Quân;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tây Nguyên - Giáo viên Trường Nguyễn Chí Thanh

Ông Trần Quang Thuận – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông Phạm Anh Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 78/2026/TLST-HS, ngày 14 tháng 7 năm 2026, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2026/QĐXXST - HS ngày 24 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:

Đặng Tiến N, sinh năm 2004 tại Lâm Đồng; Nơi đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở trước khi phạm tội: Thôn G, xã T, tỉnh Lâm Đồng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: công giáo; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: sinh viên; con ông Đặng Minh T, sinh năm 1970 và con bà Võ Thị M, sinh năm 1971; Tiền án, tiền sự: không. Hiện tại ngoại – có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

- Người đại diện theo pháp luật của người bị hại Nguyễn Đình T1: Ông Nguyễn Đình P, sinh năm 1975 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn A, xã T, tỉnh Lâm Đồng - có mặt tại phiên toà;

- Anh Hồ Da H, sinh ngày 03/9/2009; địa chỉ: Thôn H, xã T, tỉnh Quảng Ngãi – vắng mặt tại phiên toà

Đại diện theo pháp luật của anh Hồ Da H: Bà Hồ Thị Hương T2, sinh năm: 1987; địa chỉ: Thôn H, xã T, tỉnh Quảng Ngãi – vắng mặt tại phiên toà;

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Mã Văn H1, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn G, xã T, tỉnh Lâm Đồng – vắng mặt tại phiên toà;

Anh Lê Khắc Đ, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn B, xã T, tỉnh Lâm Đồng - có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 17/12/2025, do xe mô tô biển số 48AF - 033.33 của Nguyễn Đình T1 bị hư hỏng nên Đặng Tiến N điều khiển xe mô tô biển số 48H6 - 2923 và dùng chân phải đạp vào gác để chân phía sau bên trái của xe mô tô biển số 48AF - 033.33 để anh Nguyễn Đình T1 điều khiển trên đường liên xã T - Đ, theo hướng từ xã T đi xã Đ để đẩy xe đi sửa. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến khu vực thôn A, xã T, tỉnh Lâm Đồng, phát hiện cùng chiều phía trước có xe càng, biển số 48MK1 – 037.58 do anh Mã Văn H1 điều khiển đi cùng chiều phía trước nên Đặng Tiến N điều khiển xe mô tô biển số 48H6 - 2923 đẩy xe mô tô biển số 48AF-033.33 sang phần đường phía bên trái của xe đi ngược chiều theo hướng lưu thông của mình để vượt qua xe càng, khi cả hai xe song song với thùng của xe càng, phát hiện phía trước có xe mô tô biển số 39F1 - 2532 do Hồ Da H (sinh năm 2009, trú tại thôn H, xã T, tỉnh Quảng Ngãi) điều khiển đi theo hướng ngược lại. Do khoảng cách quá gần, không kịp xử lý nên Nguyễn Đình T1 và Đặng Tiến N đã để xe mô tô biển số 48H6 - 2923 và xe mô tô biển số 48AF - 033.33 tông vào xe mô tô biển số 39F1 - 2532. Hậu quả, Nguyễn Đình T1 chết khi đi cấp, Đặng Tiến N và Hồ Da H bị thương, 03 xe mô tô bị hư hỏng.

1. Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường xảy ra vụ Tai nạn giao thông là đoạn đường liên xã Đ - T thuộc địa phận Thôn E, xã T, tỉnh Lâm Đồng. Đây là đoạn đường nhựa, thẳng, bằng phẳng, dọc hướng T - Đ và có độ nghiêng dốc xuống theo hướng từ T đến Đ (hướng T là hướng đường đi xã Đ, tỉnh Lâm Đồng; hướng Đông Nam là hướng đường đi Đường H). Mặt đường nhựa rộng 6,1m, giữa mặt đường có vạch sơn màu vàng dạng nét đứt, kẻ dọc theo chiều dài của đường, rộng 15cm, tim vạch sơn màu vàng chia mặt đường làm hai phần: Phần đường phía Đông Bắc rộng 2,9m, phần đường phía Tây Nam rộng 3,2m. Tiếp giáp phía Đông Bắc có phần lề gia cố bằng bê tông rộng 1,5m, tiếp giáp phía Tây Nam đường có phần lề đất rộng 1,2m và rãnh thoát nước bằng đất. Hai bên đường có nhà dân và cửa hàng kinh doanh. Thời điểm khám nghiệm đoạn đường không có đèn đường chiếu sáng, không có vật cản che khuất tầm nhìn.

Quá trình khám nghiệm, chọn mép đường bên phải theo hướng di chuyển từ xã Đ đi đường H làm mép đo cố định các dấu vết tại hiện trường (mép đường chuẩn). Chọn cột điện có ký hiệu: “T885 A-7” cách mép đường chuẩn 3,8 m về phía Đông Bắc làm điểm mốc cố định hiện trường để tiến hành đo đạc (ký hiệu M trên sơ đồ hiện trường). Tiến hành khám nghiệm hiện trường, ghi nhận:

- 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Dream, màu sơn tím, gắn biển số 48H6 - 2923, nằm ngả bên trái, đầu xe quay hướng Đông Bắc, đuôi xe quay hướng Tây Nam; trục bánh trước cách điểm mốc về hướng Tây 14,8 m, cách mép đường chuẩn 1,8m; trục bánh sau cách mép đường chuẩn 68 cm. Kiểm tra phía dưới xe mô tô, phát hiện 01 (một) vết cày, trượt mặt đường, chiều hướng từ đường H đi xã Đ, dài 18cm, phần rộng nhất 0,5 cm, sâu nhất 0,1cm; điểm đầu vết cày, trượt cách trục trước xe mô tô biển số 48H6 - 2923 về phía Tây 80 cm, cách mép đường chuẩn 1,5 m; điểm cuối vết cày tiếp giáp phần ốc cố định gương chiều hậu bên trái xe mô tô, cách mép đường chuẩn 1,4 m.

- 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu sơn đen, bạc, gắn biển số: 48AF - 033.33, nằm ngả bên phải, đầu xe quay hướng Đông Nam, đuôi xe quay hướng T; trục bánh sau cách trục bánh trước xe mô tô biển số 48H6 - 2923 về hướng Đông 2,5 m, cách mép đường chuẩn 3,1m; trục bánh trước cách mép đường chuẩn 03 m. Kiểm tra phía dưới xe mô tô phát hiện:

+ 01 vết cày, trượt mặt đường, bám dính tạp chất màu xám bạc, chiều hướng từ xã Đ đi đường H, dài 70 cm, phần rộng nhất 0,5 cm, sâu nhất 0,1cm; điểm đầu vết cày, trượt cách trục sau xe mô tô biển số: 48AF - 033.33 về phía Bắc 35cm, cách mép đường chuẩn 2,8 m; điểm cuối vết cày, trượt tiếp giáp với đầu tay thắng bên phải xe mô tô biển số: 48AF - 033.33, cách mép đường chuẩn 2,4 m.

+ 01 hệ thống các vết cày, trượt mặt đường, mất sơn màu vàng vạch kẻ đường, chiều hướng phức tạp, trong vùng kích thước 55cm x 12cm, tâm vùng dấu vết cày, trượt này cách trục trước xe mô tô biển số 48AF - 033.33 về phía Bắc 25cm.

- 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Dream, màu sơn tím, gắn biển số 39F1 - 2532, nằm ngả bên trái, đầu xe quay hướng Đ1, đuôi xe quay hướng Tây; trục bánh sau cách trục bánh trước xe mô tô biển số 48H6 - 2923 về hướng Đông 2,4m, cách mép đường chuẩn 3,6m; trục bánh trước cách mép đường chuẩn 4,1m. Kiểm tra phía dưới xe mô tô phát hiện 01 hệ thống các vết cày, trượt, chiều hướng từ xã Đ đi đường H, tập trung trong vùng kích thước 70cm x 16cm.

- 01 vết cày, trượt mặt đường, chiều hướng từ xã Đ đi đường H, phần cuối vết cày, trượt cong về phía tim đường, dài 57cm, phần rộng nhất 0,4cm, sâu nhất 0,1cm (đặt số, ký hiệu 01); điểm đầu vết cày, trượt ký hiệu 01 cách trục bánh trước xe mô tô biển số 48H6-2923 về phía Đông Bắc 90cm, cách mép đường chuẩn 2,75m; điểm cuối vết cày, trượt ký hiệu 01 cách mép đường chuẩn 2,7m.

- 01 vết cày, trượt mặt đường, chiều hướng từ đường H đi xã Đ, dài 18cm, phần rộng nhất 0,8cm, sâu nhất 0,2cm (đặt số, ký hiệu 02); điểm cuối dấu vết cày, trượt ký hiệu 02 cách điểm cuối dấu vết cày, trượt ký hiệu 01 về phía Nam 1,8m, cách mép đường chuẩn 1,9m; điểm đầu dấu vết cày, trượt ký hiệu 02 cách mép đường chuẩn 1,9m.

- 01 vùng dấu vết màu nâu đỏ, kích thước 1,9m x 0,25m (đặt số, ký hiệu 03), trong đó vùng tập trung nhiều dấu vết màu nâu đỏ nhất ở phía T vùng dấu vết, tâm vùng tập trung nhiều dấu vết này cách trục bánh trước xe mô tô biển số: 48H6 - 2923 về phía Đông 90cm, cách mép đường chuẩn 3,7m.

- 01 vùng các mảnh nhựa, thủy tinh, kim loại gãy, vỡ màu đen, tím, trắng, trắng trong, xám, bạc, kích thước 12,3m x 8,7m, trên mặt đường và lề hai bên đường tại khu vực trung tâm hiện trường.

2. Kết quả khám nghiệm phương tiện:

2.1. Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream, màu sơn Tím, biển số 39F1 - 2532:

- Phần đầu phía trước xe: Hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước bể vỡ, mất khuyết. Ốp nhựa đầu xe và phần mặt nạ phía trước bể vỡ, mất khuyết một phần; mặt ngoài phía trước phần ốp nhựa còn lại cố định trên xe có vết trượt xước, mất sơn rải rác, chiều hướng phức tạp, trong kích thước 27cm x 13cm, vị trí thấp nhất cách nền đất 53cm. Mất khuyết để chắn bùn phía trước; Trục cổ lái lệch 20cm so với vị trí ban đầu theo chiều từ phải sang trái, từ trước ra sau.

- Phần đầu, thân xe bên phải: Mặt ngoài lốc máy bên phải có vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước 10,5cm x 10,5cm, vị trí thấp nhất cách nền đất 29 cm; Khung kim loại bảo vệ lốc máy cong vênh từ trước về sau; mặt ngoài khung kim loại có vết trượt xước, bám dính chất màu đen rải rác, chiều hướng từ trước về sau; Cần thắng chân (bên phải xe) cong gập từ phải qua trái, từ trước về sau; mặt trước bàn đạp thắng có vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu trắng đục, kích thước 03cm x 0,5cm, cách nền đất 28cm; Gãy, mất khuyết gác chân trước bên phải.

- Phần đầu, thân xe bên trái: Mặt trước trên thanh kim loại phần tay lái bên trái và ốp nhựa công tắc bên trái có vết trượt xước, mất sơn, chiều hướng từ phải sang trái, từ trước ra sau, kích thước 20cm x 04cm, vị trí thấp nhất cách nền đất 87cm. Trên phần kim loại cố định ốp nhựa đầu xe bên trái có bám dính chất màu vàng đỏ dạng mô, tổ chức cơ thể, kích thước 04 cm x 02 cm, cách nền đất 91cm; Mặt ngoài đầu trên phuộc nhún bên trái có vết bể vỡ, khuyết kim loại, kích thước 1,7cm x 01cm, cách nền đất 55cm; tiếp giáp vết bể vỡ này về phía dưới, tại mặt ngoài phuộc nhún bên trái có vết trượt xước, mất bụi, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước 6,5cm x 0,5cm; Mặt trước đầu ốc phuộc nhún bên trái có vết trượt xước, khuyết kim loại, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước 01 cm x 0,5cm, cách nền đất 23,5cm; Mặt trước ngoài lốc máy bên trái có vết trượt xước, khuyết kim loại, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước 10cm x 02cm, vị trí thấp nhất cách nền đất 20cm; Cần số trước (bên trái xe) cong gập từ trước ra sau. Tại trạng thái cong gập này thấy mặt trên trước cần số trước có vết trượt xước, khuyết kim loại, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước 1,5cm x 0,3cm, cách nền đất 24cm. Đầu cần gạt số có vết trượt xước kim loại, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước 0,5cm x 0,5cm, cách nền đất 24cm; Gác chân trước bên trái cong vênh từ trước ra sau, mặt trước và đầu gác để chân có vết mài mòn nhựa, kim loại, chiều hướng từ phải sang trái, từ trước ra sau, kích thước 08cm x 3,5cm, vị trí thấp nhất cách nền đất 23cm; Chân chống giữa đang ở trạng thái gạt lên. Đầu chân chống giữa bên trái có vết trượt xước kim loại, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước 01cm x 0,2cm.

- Phần đuôi xe: Không phát hiện dấu vết nghi vấn liên quan đến vụ việc.

2.2. Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream, màu tím, biển số 48H6 - 2923:

- Phần đầu, thân xe bên phải: Mặt ngoài đầu dưới phuộc nhún bên phải có vết trượt xước kim loại, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước 3,6cm x 02cm, điểm thấp nhất cách nền đất 22,5cm; Mặt dưới lốc máy bên phải có vết mài mòn, trượt xước, mất sơn, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước 04cm x 0,3cm, cách nền đất 23cm; Chân thắng sau (bên phải xe) cong vênh theo chiều hướng từ trước ra sau, gãy mất khuyết phần bàn đạp thắng; G để chân trước bên phải mất khuyết ốp cao su, phần kim loại của gác để chân cong vênh theo chiều hướng từ trước ra sau, mặt trước phần kim loại có vết trượt xước, mất sơn, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước 8,4cm x 0,5cm, điểm thấp nhất cách nền đất 25,5cm; Mặt ngoài bô xả có vết móp méo kim loại từ ngoài vào trong và vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen, chiều hướng từ trước ra sau, trong kích thước 11cm x 03cm, điểm thấp nhất cách nền đất 25cm, điểm cuối vết trượt xước cách điểm cuối bô xả 13cm.

- Phần đầu, thân xe bên trái: Mặt ngoài phía trước ốc cố định gương chiếu hậu bên trái có vết mài mòn, trượt xước kim loại, chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, kích thước 0,5cm x 0,5cm; Đầu tay lái bên trái có vết mài mòn, trượt xước cao su, chiều hướng không xác định, kích thước 03cm x 01cm; Đầu ngoài gác để chân trước bên trái có vết mài mòn cao su, lộ phần đầu kim loại, mặt ngoài dưới đầu kim loại có vết trượt xước, bám dính chất màu xám trắng, chiều hướng không xác định, kích thước 01cm x 0,8cm.

- Phần đuôi xe: Không phát hiện dấu vết nghi vấn liên quan đến vụ việc.

2.3. Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đen, biển số 48AF - 033.33:

- Phần đầu phía trước xe: Bể vỡ, mất khuyết toàn bộ ốp nhựa đầu xe và hệ thống đèn chiếu sáng phía trước. Bể vỡ, mất khuyết một phần ốp mặt nạ và ốp đèn tín hiệu phía trước xe; mặt ngoài ốp nhựa còn lại của phần mặt nạ có nhiều vết trượt xước rải rác, chiều hướng phức tạp, trong vùng kích thước 50cm x 50cm. Gãy, mất khuyết để chắn bùn phía trước.

- Phần đầu, thân xe bên phải: Đầu tay thắng phải có vết trượt xước kim loại, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước 1,2cm x 01cm; Mặt trước đầu tay lái phải có vết mài mòn, trượt xước nhựa, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước 04cm x 02cm; Y và ốp nhựa thân xe bên phải bung bật khớp cố định, bể vỡ, mất khuyết một phần; Mặt bên phải yên ngồi có vết màu vàng nâu (dạng bẩn đất). Y1 ngồi xe mô tô bung mở; Cần đạp thắng cong gập từ phải sang trái. Mặt dưới ngoài bàn đạp thắng chân có vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu vàng, chiều hướng không xác định, kích thước 03cm x 0,2cm. Mặt ngoài cần thắng có vết trượt xước, bám dinh chất màu vàng, không xác định chiều hướng, kích thước 02cm x 0,5cm; Gác chân trước bên phải cong gập từ phải sang trái, từ trước về sau. Mặt dưới đầu gác để chân trước bên phải có vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu xám trắng, chiều hướng từ trước về sau, kích thước 0,7cm x 0,7cm. Mặt ngoài cần cố định gác để chân trước bên phải có vết trượt xước, bám dính chất màu vàng, xám trắng, chiều hướng không xác định, trong đó vết bám dính chất màu vàng có kích thước 1,5cm x 0,5cm, vết màu xám trắng có kích thước 02cm x 01cm; Mặt ngoài ốp nhựa bảo vệ bô xả có vết trượt xước, chiều hướng phức tạp, kích thước 60cm x 04 cm.

- Phần đầu, thân xe bên trái: Mất khuyết gương chiếu hậu bên trái; Ốp nhựa tay lái bên trái trượt từ phải sang trái khỏi vị trí ban đầu 3,5cm, mặt trước ốp nhựa tay lái bên trái có vết mài mòn, trượt xước, chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái, kích thước 08cm x 03cm, cách nền đất 95cm; Mặt dưới trước tay thắng bên trái có vết mài mòn, trượt xước loại, mất sơn, chiều hướng từ phải sang trái, từ trước ra sau, kích thước 18cm x 01cm, cách nền đất 90cm; Mặt trước ngoài đầu phuộc nhún bên trái có vết trượt xước, bể vỡ, khuyết kim loại, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước 2,5cm x 01cm, vị trí thấp nhất cách nền đất 53cm. Mặt ngoài ốp phuộc nhún bên trái có vết trượt xước, bám dính tạp chất dạng bẩn đất màu vàng nâu rải rác, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước 12cm x 03cm, vị trí thấp nhất cách nền đất 40cm; Bể vỡ, mất khuyết toàn bộ yếm chắn gió bên trái và một phần ốp nhựa thân xe bên trái; Cần gạt số phía trước và gác để chân trước bên trái cong vênh, biến dạng từ trước ra sau, có vết trượt xước rải rác, chiều hướng từ trước ra sau, vị trí thấp nhất cách nền đất 15cm; Mất khuyết gác chân sau bên trái. Mặt ngoài phần kim loại cố định gác chân sau bên trái có vết trượt xước rải rác, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (18cm x 6,5cm, vị trí thấp nhất cách nền đất 32cm.

- Phần đuôi xe: Không phát hiện dấu vết nghi vấn liên quan đến vụ việc.

2.4. Xe càng biển số 48MK1 - 037.58:

- Phần đầu xe: Không phát hiện dấu vết nghi vấn liên quan đến vụ việc.

- Phần thân xe bên phải: Không phát hiện dấu vết nghi vấn liên quan đến vụ việc.

- Phần thân xe bên trái: Tại mép ngoài để chắn bùn sau bên trái bám dính chất màu nâu đỏ, kích thước 12cm x 2,5cm, vị trí thấp nhất cách nền đất 72cm, cao nhất cách nền đất 81cm, mép ngoài cùng (về phía sau) vết này cách đuôi xe 54cm.

- Phần đuôi xe: Không phát hiện dấu vết nghi vấn liên quan đến vụ việc.

3. Tại Kết luận giám định số 145/KL-KTHS ngày 31/01/2026 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:

- Xe mô tô biển số 39F1 - 2532 với xe mô tô biển số 48AF - 033.33 và xe mô tô biển số 48H6 -2923 trong vụ tai nạn giao thông nói trên có va chạm với nhau. Xe mô tô biển số 39F1 - 2532 va chạm với xe mô tô biển số 48AF - 033.33 trước, va chạm với xe mô tô biển số 48H6 - 2923 sau.

- Vùng va chạm đầu tiên tương ứng trên mặt đường giữa xe 39F1 - 2532 với xe mô tô biển số 48AF - 033.33 và xe mô tô biển số 48H6 - 2923, giữa xe mô tô biển số 39F1 - 2532 với xe mô tô biển số 48AF - 033.33 và xe mô tô biển số 48H6 - 2923 thuộc phần đường bên phải dành cho phương tiện lưu thông theo hướng từ xã Đ đi đường H.

- Xe càng biển số 48MK1 - 037.58 không va chạm với 03 phương tiện (xe 39F1 - 2532, xe mô tô biển số 48AF - 033.33 và xe mô tô biển số 48H6 - 2923).

4. Tại Kết luận giám định tử thi số 37C/KLGĐTT-PYLĐ, ngày 06/01/2026 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh L kết luận đối với Nguyễn Đình T1:

- Kết quả khám nghiệm:

+ Gãy xương hàm dưới.

+ Bầm tụ da cơ vùng thái dương – đỉnh – chẩm phải.

+ Vỡ xương hộp sọ vùng đỉnh – thái dương phải, kênh xương hộp sọ, có máu không đông chảy ra theo đường vỡ.

- Kết luận nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não/chấn thương hàm mặt.

5. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 149C/KLTTCT-PYLĐ, ngày 19/6/2026 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh L kết luận:

- Kết quả khám giám định:

+ Gãy đầu dưới xương quay trái, kết quả điều trị tốt.

+ Gãy đầu dưới xương chày chân trái, can liền tốt, trục thẳng, không ngắn chi.

+ Gãy đầu trên và đầu dưới xương mác chân trái, can xấu, không ngắn chi.

+ 01 sẹo phần mềm mặt trước ngoài cổ tay phải, kích thước trung bình.

+ 01 sẹo phần mềm mu đốt 2 ngón III bàn chân phải, kích thước nhỏ.

+ 01 sẹo phần mềm mặt trước trong 1/3 dưới cẳng chân trái, kích thước nhỏ.

+ 01 sẹo phần mềm mặt trước trong 1/3 dưới đến mắt cá trong chân trái, kích thước trung bình.

+ 01 sẹo phần mềm mặt sau 1/3 trên cẳng chân trái, kích thước lớn.

- Cận lâm sàng:

+ Chưa thấy hình ảnh tổn thương xương cẳng tay phải trên phim.

+ Gãy cũ đầu trên + dưới xương mác trái; gãy cũ 1/3 dưới xương chày + dụng cụ kết hợp xương đầu dưới xương chày trái.

- Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y2 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần, xác định, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hồ Da H tại thời điểm giám định là: 31% (ba mươi mốt phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

6. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 733/KL-HĐĐGTS, ngày 09/6/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND tỉnh L kết luận:

- Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter biển số 48AF - 033.33 bị thiệt hại 3.700.000 đồng.

- Xe mô tô nhãn hiệu Teleat loại 100E biển số 39F1 - 2532 bị thiệt hại 1.503.000 đồng.

- Xe mô tô nhãn hiệu Zappy, loại 100E, biển số 48H6 - 2923 bị thiệt hại 83.000 đồng.

* Vật chứng của vụ án: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã trả lại xe mô tô biển số 48H6 - 2923; xe mô tô biển số 39F1 - 2532 và xe càng, biển số 48MK1 - 037.58 cho các chủ sở hữu hợp pháp. Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển xe mô tô biển số 48AF - 033.33 cùng hồ sơ đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến Phòng C Công an tỉnh L để xử lý theo quy định của pháp luật.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 140.000.000 đồng, người đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm.

Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKSLDG (KV8) ngày 13 tháng 7 năm 2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng truy tố bị cáo Đặng Tiến N về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng truy tố là đúng, không oan.

Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 17/12/2025, tại đường liên xã Đ - T thuộc địa phận Thôn E, xã T, tỉnh Lâm Đồng, Đặng Tiến N có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 48H6 - 2923 rồi dùng chân phải đạp vào gác để chân phía sau bên trái của xe mô tô biển số 48AF - 033.33 để anh Nguyễn Đình T1 điều khiển để đẩy xe đi sửa theo hướng từ xã T đi xã Đ, vượt xe không đảm bảo các điều kiện an toàn (vi phạm quy định tại điểm a khoản 6 Điều 14, điểm đ khoản 3 Điều 33 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ) nên xe mô tô biển số 48H6 - 2923 và xe mô tô biển số 48AF - 033.33 gây tai nạn với xe mô tô biển số 39F1 - 2532 do anh Hồ Da H điều khiển đi theo hướng ngược lại. Hậu quả, làm anh Nguyễn Đình T1 chết do chấn thương sọ não/chấn thương hàm mặt, anh Hồ Da H bị thương với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 31%, xe mô tô biển số 48AF - 033.33 bị thiệt hại 3.700.000 đồng và xe mô tô nhãn biển số 39F1 - 2532 bị thiệt hại 1.503.000 đồng.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đặng Tiến N về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Đặng Tiến N từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 07/8/2026.

* Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã trả lại xe mô tô biển số 48H6 - 2923; xe mô tô biển số 39F1 - 2532 và xe càng, biển số 48MK1 - 037.58 cho các chủ sở hữu hợp pháp. Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển xe mô tô biển số 48AF - 033.33 cùng hồ sơ đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến Phòng C Công an tỉnh L để xử lý theo quy định của pháp luật.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho đại diện theo pháp luật của người bị hại với số tiền là 140.000.000 đồng và người đại diện của người bị hại không yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường nên không xem xét giải quyết;

Phần tranh luận bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường thêm.

Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 17/12/2025, tại đường liên xã Đ - T thuộc địa phận Thôn E, xã T, tỉnh Lâm Đồng, Đặng Tiến N có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 48H6 - 2923 rồi dùng chân phải đạp vào gác để chân phía sau bên trái của xe mô tô biển số 48AF - 033.33 để anh Nguyễn Đình T1 điều khiển để đẩy xe đi sửa theo hướng từ xã T đi xã Đ; phát hiện cùng chiều phía trước có xe càng biển số 48MK1 - 037.58 do anh Mã Văn H1 điều khiển đi cùng chiều phía trước nên Đặng Tiến N điều khiển xe mô tô 48H6 - 2923 đẩy xe mô tô biển số 48AF - 033.33 sang phần đường phía bên trái của xe đi ngược chiều theo hướng lưu thông của mình để vượt xe càng, khi cả hai xe song song với thùng xe càng phát hiện phía trước có xe mô tô biển số 39F1 - 2532 do Hồ Da H điều khiển đi theo hướng ngược lại. Do khoảng cách quá gần, không kịp xử lý nên Nguyễn Đình T1 và Đặng Tiến N đã để xe mô tô biển số 48H6 - 2923 và xe mô tô biển số 48AF - 033.33 gây tai nạn với xe mô tô biển số 39F1 - 2532 do anh Hồ Da H điều khiển đi theo hướng ngược lại.

Tại bản Kết luận giám định tử thi số 37/C/KLGĐTT-PYLĐ, ngày 06/01/2026 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh L kết luận: Nguyên nhân chết Nguyễn Đình T1: Chấn thương sọ não/chấn thương hàm mặt.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 149C/KLTTCT-PYLĐ, ngày 19/6/2026 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh L kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y2 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần, xác định, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hồ Da H tại thời điểm giám định là: 31% (ba mươi mốt phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Hành vi của Đặng Tiến N điều khiển xe mô tô không đảm bảo các điều kiện an toàn vi phạm quy định tại điểm a khoản 6 Điều 14 và điểm đ khoản 3 Điều 33 của Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ.

Hành vi của bị cáo Đặng Tiến N đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

...”

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe người bị hại, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo có đủ nhận thức về hành vi của mình nhưng khi tham gia giao thông đã vi phạm quy định của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ làm một người bị chết. Vì vậy, cần thiết phải đưa bị cáo ra xét xử và xử phạt bị cáo bằng mức án tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, sau khi điều khiển xe gây tai nạn bị cáo đã đến gia đình người bị hại bồi thường toàn bộ thiệt hại cho đại diện hợp pháp người bị hại với số tiền là 140.000.000 đồng; bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo được người đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đối với tương tích của người bị hại Hồ Gia H2 người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường, khi bị hại H2 tham gia giao thông cũng đã sử dụng nông độ cồn và đi với tốc độ nhanh nên cần xác định lỗi một phần của người bị hại đây các là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên HĐXX cần xem xét áp dụng các tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, hiện đang là sinh viên và có nhân thân tốt nên HĐXX cần xem xét xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp; thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật và tạo điều kiện cho bị cáo được tự cải tạo dưới sự giám sát của gia đình, chính quyền địa phương.

Đối với Hồ Da H, có hành vi điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe, trong tình trạng có nồng độ cồn trong máu vượt quá mức quy định cho phép (0,294g/l), Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ đến Phòng C Công an tỉnh L để xử lý theo quy định của pháp luật.

Vật chứng của vụ án: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã trả lại xe mô tô biển số 48H6-2923; xe mô tô biển số 39F1-2532 và xe càng, biển số 48MK1-037.58 cho các chủ sở hữu hợp pháp. Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển xe mô tô biển số 48AF-033.33 cùng hồ sơ đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến Phòng C Công an tỉnh L để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Những người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Tiến N phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Đặng Tiến N đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 07/8/2026.

Giao bị cáo Đặng Tiến N cho Đ, tỉnh Lâm Đồng quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu bị cáo thay đổi chỗ ở thì thực hiện theo quy định tại Điều 92, Điều 68 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14. Bị cáo Đặng Tiến N phải nộp số tiền là 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại (H) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết tại chính quyền địa phương.

Cỡ chữ