- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Xè Xó - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Xè X phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 4 - LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2026/HS-ST Ngày 25-03-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Đồng Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tống Văn Đông
2. Bà Lý Thị The
- Thư ký phiên toà: Ông: Lý Văn Thắng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Giàng Thị Dơ - Kiểm sát viên.
Ngày 25/03/2026, tại trụ sở Nhà văn hóa bản N1, xã B, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2026/TLST-HS, ngày 09/02/2026, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2026/QĐXXST-HS, ngày 11/3/2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Xè X, sinh ngày 04 tháng 10 năm 2006, tại xã P, tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: bản Tá Bạ, xã P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: La Hủ; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Lỳ X1 (đã chết) và con bà Phản Gió N, sinh năm 1980; Có chồng: Bị cáo sống chung như vợ chồng với anh Vàng Gió T, sinh năm 1997 và có 01 người con, sinh năm 2025 (đã chết).
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 03/3/2022, bị cáo bị Công an huyện M (cũ) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tính đến lần phạm tội này bị cáo đã được xóa tiền sự.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2025 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam M -Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Lò Xé X2: Ông Nguyễn Xuân O - Luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lò Xè X, sinh năm 2006, trú tại bản Tá Bạ, xã P, tỉnh Lai Châu là người sử dụng ma túy và nghiện ma tuý từ năm 2023. Ngày 17/10/2014, X đăng ký tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone tại Trung tâm y tế huyện M, tỉnh Lai Châu; điểm cấp phát Methadone là Trạm Y tế S, xã P, tỉnh Lai Châu, X được tiếp nhận điều trị và duy trì đến ngày 27/10/2025.
Trong thời gian tham gia điều trị Methadone, L Xó không chấp hành nghiêm việc cai nghiện mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể: Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 27/10/2025, Xó trên đường đi lấy củi về đến khu vực rừng thuộc bản T, xã P, tỉnh Lai Châu thì gặp một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch đang ngồi sử dụng trái phép Heroine. Người đàn ông này rủ X cùng sử dụng ma túy, do là người nghiện nên X đã đồng ý và ngồi xuống bên cạnh. Người đàn ông lạ mặt cầm mảnh giấy bạc còn sót lại H chưa sử dụng hết, dùng bật lửa hơ nóng số Heroine này để Xó hít. Sau khi sử dụng xong, X đi về nhà tại bản T, xã P, tỉnh Lai Châu. Người đàn ông bán Heroine cho X đi đâu, làm gì X không biết. Đến ngày 28/10/2025, Công an xã P, tỉnh Lai Châu phối hợp với Điểm Trạm Y tế số 01, xã P, tỉnh Lai Châu tiến hành kiểm tra, test nhanh chất ma túy trong nước tiểu đối với X. Kết quả kiểm tra xác định: Xó dương tính với chất ma tuý thuộc nhóm MOP (H, M). Sau đó, Công an xã P, tỉnh Lai Châu đã tiến hành lấy mẫu nước tiểu của X để gửi đi giám định chất ma túy và chất chuyển hóa của chất ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số: 3093/KL-KTHS, ngày 03/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận:
Trong chất lỏng màu vàng của mẫu ghi Mẫu nước tiểu của Lò Xè X, sinh năm 2006, trú tại bản Tá Bạ, xã P, tỉnh Lai Châu thu ngày 28/10/2025 gửi đến giám định tìm thấy chất ma tuý, loại: Morphine.
* Morphine là sản phẩm chuyển hoá của H (H) trong cơ thể con người.
* Morphine: Số thứ tự 55, Danh mục IIA, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
* Heroine (H1): Số thứ tự 9, Danh mục IA, Nghị định số 57/2022/NĐ -CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
- Vật chứng của vụ án:
+ Vật chứng thu giữ được gồm: 15ml nước tiểu thu giữ của Lò Xè X đã gửi toàn bộ làm mẫu vật giám định, không hoàn lại đối tượng giám định; đối với chất ma túy loại Heroine và dụng cụ sử dụng ma túy, không thu giữ được do không xác định được người đã cho X1 sử dụng cùng.
Về trách nhiệm dân sự: Không có.
Tại bản Cáo trạng số: 97/CT-VKS-KV4, ngày 06 tháng 2 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu đã truy tố bị cáo Lò Xè X về tội "Sử dụng trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Bản kết luận điều tra số A14/BKL-CSMT, ngày 10/01/2026 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L và bản Cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội của mình đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Xè X phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma tuý", theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025): Xử phạt bị cáo Lò Xè X từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2025.
Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 135; khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Lò Xè X đưa ra những quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1, 256a; điều 38; điều 50 của Bộ luật sự; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở khu vực kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, hộ nghèo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu, nhất trí với bản luận cứ bào chữa.
Tại lời nói sau cùng bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, tỏ rõ sự ăn năn, hối lỗi và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát khu vực 4 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với biên bản test ma túy, biên bản niêm phong nước tiểu gửi giám định, bản kết luận giám định số 3093/KL-KTHS, ngày 03/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh P về chất ma túy, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can tại giai đoạn điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp; từ đó, đủ cơ sở kết luận: Lò Xè X là đối tượng đang trong thời gian điều trị nghiện bằng thuốc thay thế Methadone theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy. Tuy nhiên, vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 27/10/2025, X đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực bản T, xã P, tỉnh Lai Châu. Đến ngày 28/10/2025, X bị Công an xã P, tỉnh Lai Châu triệu tập và lấy mẫu giám định chất ma túy trong cơ thể. Kết quả giám định xác định trong mẫu nước tiểu của X có chất ma tuý loại Morphine (là sản phẩm chuyển hoá của Heroine trong cơ thể người).
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).
Điều luật quy định như sau:
“Điều 256a. Tội sử dụng trái phép chất ma tuý
1. Người nào sử dụng trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm.
…
a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma tuý hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma tuý;”
Hành vi của bị cáo được xác định là nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Bộ luật Hình sự do đã xâm hại chế độ quản lý của Nhà nước về việc sử dụng chất ma tuý; là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm, trực tiếp gây ra các nguy cơ về an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, quan điểm truy tố và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu tại phiên toà đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với lỗi cố ý.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Lò Xè X sinh ra tại xã P, tỉnh Lai Châu; Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo là người nghiện chất ma tuý và sử dụng chất ma túy. Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 03/3/2022, bị cáo bị Công an huyện M (cũ) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tính đến lần phạm tội này bị cáo đã được xóa tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Căn cứ điểm a khoản 1, Điều 9 Nghị quyết 04/2025/NQ- HĐTP ngày 30/9/2025 được coi là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biết khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có cơ hội cai nghiện, răn đe, giáo dục bị cáo, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Xét quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Lò Xè X, Hội đồng xét xử thấy rằng việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 256a; Điều 38, Điều 50 Bộ luật sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống thuộc khu vực kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ đề nghị của người bào chữa đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu giữ 15ml nước tiểu của Lò Xè X nhưng đã gửi toàn bộ làm mẫu giám định, không hoàn lại mẫu vật, việc cơ quan CSĐT - Công an tỉnh L gửi mẫu vật đi giám định là đúng quy định của pháp luật.
Đối với chất ma túy loại Heroine và dụng cụ sử dụng ma túy, không thu giữ được do không xác định được người đã cho X sử dụng cùng. Do vậy không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
Những vấn đề liên quan đến vụ án:
Về nguồi gốc Heroine Lò Xè Xó sử dụng: Bị cáo khai được một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch cho sử dụng cùng vào ngày 27/10/2025. Ngoài lời khai của bị cáo X thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác minh, làm rõ, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L không có đủ căn cứ để điều tra làm rõ theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Lò Xè X là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo và tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Cần áp dụng khoản 2, Điều 135; khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo X.
Về biện pháp ngăn chă ̣n: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chă ̣n tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Xè X phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Xè X 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 15/12/2025.
3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - VKSND Khu vực 4 - Lai Châu; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Phòng THADS Khu vực 4 - Lai Châu; - Phân trại tạm giam Mường Tè - Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Lai Châu; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu; - Phòng PV 06 Công an tỉnh Lai Châu; - Lưu HS – HS./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đồng Văn Dũng |