vanban.org

Bản án 90/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Nghệ An, tỉnh Nghệ An Tuyên án 14/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy phong bì thư đã được niêm phong dán kín. Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone 14 Promax màu tím, lắp sim số: 0398.298401 và 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone 7, màu đen, lắp sim số: 0866.828.681, đều đã qua sử dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn T và ĐP - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – NGHỆAN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2026/HS-ST
Ngày: 14 - 4 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Bình – Bà Phan Kim Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hưng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đặng Việt An- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – Nghệ An, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2026/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2026/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 04 năm 2026 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trương Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 26 tháng 02 năm 1996 tại xã T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm C, xã T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Thổ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Văn T1 và con bà: Cao Thị H (đã chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/12/2025 đến nay có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Hoàng Huy T2; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 16 tháng 4 năm 2003 tại phường B, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: tổ dân phố N, phường B, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Xuân V và con bà: Bùi Thị N; Vợ: Trần Thị N1, sinh năm 2004; Con: Chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/12/2025 đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 45 phút ngày 01/12/2025, trong khi ăn tối tại khu vực bến xe V (cũ) Trương Văn T có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã lấy điện thoại Iphone 14 Promax, màu tím ra dùng tài khoản Zalo có tên TVT nhắn tin cho tài khoản có tên “Hoàng Huy T2” là người ở cùng phòng trọ với nội dung “gọi anh 1 củ” (ý nói T2 mua giúp T 1.000.000 đồng ma túy) về cùng T2 sử dụng. T2 đồng ý rồi nhắn tin lại “mua thì ck đi” đồng thời gửi mã QR tài khoản Ngân hàng T3 của T2 cho T, T dùng tài khoản 26029656789 Ngân hàng M chuyển 1.000.000 đồng (một triệu đồng) đến tài khoản số 86338888888888 Ngân hàng T3 mang tên Hoàng Huy T2; T2 nhận tiền xong, lấy điện thoại Iphone 7 màu đen của T2, dùng tài khoản Zalo Hoàng Huy T2 nhắn tin cho một người đàn ông (mà T2 không biết tên, địa chỉ của người này) có tên tài khoản Z là “T Ok” để hỏi mua ma túy. Người đàn ông đồng ý, hẹn T2 ra cầu C, thuộc phường T, tỉnh Nghệ An để giao dịch. Hoàng Huy T2 đi bộ đến cầu C thì thấy một người đàn ông điều khiển xe Wave anphal màu đen, không mang biển số đến gặp, T2 đã đưa cho người đàn ông 02 tờ tiền, mỗi tờ có mệnh giá 500.000 đồng. Nhận tiền xong, người đàn ông nói với T2:“30 phút sau đến ngõ G đường N, phường T, tỉnh Nghệ An lấy ma túy được dán phía sau biển quảng cáo màu xanh”. Sau đó Hoàng Huy T2 đi về phòng trọ ở số A, ngõ C, đường P, phường T, tỉnh Nghệ An.

Đến 23 giờ 45 phút cùng ngày, Trương Văn T nhận tin nhắn Zalo của T2 với nội dung: “xuống lấy đi, ở biển xanh” (ý nói với T đi đến ngõ G đường N, phường T, tỉnh Nghệ An lấy ma túy ở biển quảng cáo màu xanh ). Trương Văn T đi đến địa chỉ trên và lấy 01 (một) gói ni lông màu trắng, bên trong có chứa tinh thể màu trắng ở phía sau biển quảng cáo màu xanh. T bỏ gói ma túy vào túi áo khoác bên phải mà T đang mặc, sau đó đi về phòng trọ. Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 02/12/2025, khi Trương Văn T đi đến trước nhà số D, đường P, phường T, tỉnh Nghệ An thì bị Công an phường V, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang. Quá trình kiểm tra, T khai gói ni lông màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng ở túi áo khoác bên phải mà T đang mặc là ma túy đá, T nhờ Hoàng Huy T2 mua về để cùng sử dụng. Công an đã thu giữ toàn bộ vật chứng, đưa Trương Văn T về làm rõ.

Sau khi nhận thức hành vi do mình thực hiện là vi phạm pháp luật, ngày 02/12/2025 Hoàng Huy T2 đến trụ sở Công an phường V, tỉnh Nghệ An đầu thú, Tại đây, Công an phường đã tiến hành kiểm tra nhanh việc sử dụng ma túy đối với T2, kết quả: dương tính với Methamphetamine.

Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 02/12/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, xác định: Sau khi loại bỏ bao bì, số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trương Văn T có khối lượng 0,19g (Không phẩy mười chín gam), đã lấy toàn bộ làm mẫu gửi đi giám định.

Kết luận giám định số 555/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 07/12/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trương Văn T gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,19 gam (không phẩy mười chín gam).

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng vụ án:

- 0,19g (không phẩy mười chín gam) ma túy, loại Methamphetamine đã lấy toàn bộ làm mẫu gửi đi giám định, còn lại vỏ niêm phong ban đầu được niêm phong lại theo đúng quy định.

- 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone 14 Promax màu tím, lắp sim số: 0398.298401, số IMEI 1: 356163579722857; số IMEI: 2356163577060623, đã qua sử dụng thu giữ của Trương Văn T.

- 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone 7, màu đen, lắp sim số: 0866.828.681, số IMEI: 354913096032574, đã qua sử dụng thu giữ của Hoàng Huy T2.

Bản Cáo Trạng số 162/CT-VKS-KV1 ngày 22 tháng 02 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Nghệ An truy tố Trương Văn T, Hoàng Huy T2 đều về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Nghệ An giữ quyền công tố luận tội tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt Trương Văn T từ 03 (ba) năm 03 (ba) tháng đến 03 (năm) 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt Hoàng Huy T2 từ 03 (ba) năm đến 03 (năm) 03 (ba) tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy phong bì thư đã được niêm phong dán kín;

+ Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01(một) điện thoại di động, hiệu Iphone 14 Promax màu tím; 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone 7, màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Trương Văn T, Hoàng Huy T2 do các bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung:

. Xét hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, các bị cáo Trương Văn T, Hoàng Huy T2 hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 00 giờ 45 phút ngày 02/12/2025, tại khu vực trước nhà số D, đường P, phường T, tỉnh Nghệ An, Trương Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,19 (không phẩy mười chín gam), ma túy Methamphetamine thì bị Công an phường V, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang. Qua đấu tranh Trương Văn T khai số ma túy bị bắt do T nhờ Hoàng Huy T2 mua với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để cùng nhau sử dụng. Cùng ngày, nhận thức được hành vi vi phạm của mình nên Hoàng Huy T2 đến Công an phường V đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 mà Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất vụ án, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thấy rằng:

Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, có đồng phạm thuộc loại giản đơn. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước Việt Nam đối với chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Các bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được tác hại, hậu quả của ma túy mang lại cho con người và xã hội nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện, chỉ vì thỏa mãn cơn nghiện mà sa vào con đường phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Trong vụ án này, Trương Văn T là người khởi xướng việc mua ma túy về sử dụng và là người chi tiền mua ma túy; còn Hoàng Huy T2 là người trực tiếp đi mua ma túy nên bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự ở mức cao hơn bị cáo T2 .

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Hoàng Huy T2 sau khi phạm tội đã tự nguyện đầu thú nên bị cáo T2 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính là phạt tù còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét các bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

. Trong vụ án này, đối với người đàn ông có tài khoản Z là “T Ok” đã bán ma túy cho Hoàng Huy T2 và người đàn ông có tài khoản Zalo “Trường X” là người giới thiệu người bán ma túy cho T2. Do Hoàng Huy T2 không biết tên địa chỉ của những người này nên Cơ quan điều tra chưa xác minh làm rõ được, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Huy T2, Công an phường V, tỉnh Nghệ An đã xử phạt hành chính đối với T2 về hành vi này.

. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 0,19g (không phẩy mười chín gam) ma túy, loại Methamphetamine đã lấy toàn bộ làm mẫu gửi đi giám định, còn lại vỏ niêm phong ban đầu được niêm phong lại theo đúng quy định nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone 14 Promax màu tím, lắp sim số 0398.298401, số IMEI356163579722857 và số 356163577060623, đã qua sử dụng thu giữ của Trương Văn T và 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone 7, màu đen, lắp sim số: 0866.828.681, số IMEI: 354913096032574, đã qua sử dụng thu giữ của Hoàng Huy T2. Do các bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt: Trương Văn T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam 02/12/2025.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt: Hoàng Huy T2 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/12/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy phong bì thư đã được niêm phong dán kín.

- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone 14 Promax màu tím, lắp sim số: 0398.298401 và 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone 7, màu đen, lắp sim số: 0866.828.681, đều đã qua sử dụng.

Vật chứng hiện có tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Nghệ An theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/03/2026.

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc mỗi bị cáo Trương Văn T, Hoàng Huy T2 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ