- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hùng Thiên B, bị cáo Lê Ngọc D, bị cáo Trần Đình T4, bị cáo Nguyễn Tân K và giữ nguyên hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 148/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự
| TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2026/HS-PT Ngày: 10/3/2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Kim Liên
Các Thẩm phán:
ông Nguyễn Tấn Long
ông Đinh Phước Hòa
- Thư ký phiên tòa: ông Trương Quốc Lập, Thư ký Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: bà Phan Thị Xuân Thanh, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 283/2025/TLPT-HS ngày 17 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo Lê Hùng Thiên B cùng 08 bị cáo khác về tội “Đánh bạc” và tội “Tổ chức đánh bạc”. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 148/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
* Các bị cáo có kháng cáo:
1. Lê Hùng Thiên B - sinh năm 1987 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Buôn B, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là Buôn Briêng A, xã E, tỉnh Đắk Lắk); giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 12/12; con ông Lê Hùng T1 và bà Phạm Thị V; có vợ Nguyễn Thị L và có 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 04/6/2025 đến ngày 07/6/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
2. Lê Ngọc D - sinh năm 1972 tại tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai); nơi cư trú: tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là tổ dân phố F, phường T, tỉnh Đắk Lắk); giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 12/12; con ông Lê N và bà Huỳnh Thị T2; có vợ Hồ Thị Ngọc T3 và có 03 con (lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2008); tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: ngày 27/7/2020, bị Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 02 năm, đã chấp hành xong.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2025 đến ngày 12/02/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
3. Trần Đình T4 - sinh năm 1975 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là tổ dân phố H, phường T, tỉnh Đắk Lắk); giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 11/12; con ông Trần T5 và bà Phạm Thị C; có vợ Nguyễn Thị Thu H và có 02 con (lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2006); tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 12/10/2004, bị Trưởng Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính 500.000đồng về hành vi “Đánh bạc”, chấp hành xong ngày 12/10/2004.
- Ngày 21/01/1998, bị Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 03 tháng tù giam về tội “Gây rối trật tự công cộng”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/9/1998.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2025 đến ngày 12/02/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
4. Lê Xuân Q - sinh năm 1983 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: tổ dân phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là tổ dân phố E, phường T, tỉnh Đắk Lắk); giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 12/12; con ông Lê X và bà Nguyễn Thị M; có vợ Phan Thị Mộng T6 và có 03 con (lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2025 đến ngày 12/02/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
5. Nguyễn Tân K - sinh năm 1983 tại tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: số G đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là số G đường L, phường T, tỉnh Đắk Lắk); giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 08/12; con ông Nguyễn Tân H1 và bà Lê Thị Tuyết M1; có vợ Nguyễn Thị Ngọc L1 và có 04 con (lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2022); tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: ngày 25/7/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/8/2016.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2025 đến ngày 12/02/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
6. Trần Hữu P - sinh năm 1959 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: 3 G, tổ dân phố D, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là 332/02 G, tổ dân phố D xã K, tỉnh Đắk Lắk); giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 12/12; con ông Trần N1 và bà Võ Thị T7; có vợ Nguyễn Thị L2 và có 05 con (lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1994); tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 13/5/2009, bị Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong.
- Ngày 29/7/2021, bị Trưởng Công an huyện K, tỉnh Đắk Lắk xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đồng về hành vi “Đánh bạc”, chấp hành xong ngày 10/8/2021.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2025 đến ngày 12/02/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
7. Đỗ Văn H2 - sinh năm 1990 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Buôn H, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là Buôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk); giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 11/12; con ông Đỗ Văn D1 và bà Phạm Thị Thu T8; có vợ H'Nguyên N2 và có 02 con (lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: ngày 29/7/2021, bị Trưởng Công an huyện K, tỉnh Đắk Lắk xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đồng về hành vi “Đánh bạc”, chấp hành xong ngày 21/10/2021.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2025 đến ngày 12/02/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
8. Nguyễn Xuân K1 - sinh năm 1972 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: tổ dân phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là tổ dân phố D, phường T, tỉnh Đắk Lắk); giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 08/12; con ông Nguyễn Xuân N3 và bà Huỳnh Thị B1; có vợ Trần Thị Mỹ L3 và có 03 con (lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1996); tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
9. Nguyễn Xuân Y - sinh năm 1973 tại tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai); nơi cư trú: thôn A, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là thôn A, phường T, tỉnh Đắk Lắk); giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Xuân C1 và bà Hồ Thị L4; có vợ Nguyễn Thị Thanh T9 và có 02 con (lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2025 đến ngày 12/02/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Ngoài ra, vụ án còn có 05 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Hùng Thiên B là chủ cơ sở gà chọi L6. B nuôi gà chọi và thường tổ chức đá gà, cá cược dựa trên kết quả đá gà cho các con bạc cùng tham gia cá cược, thắng thua bằng tiền. Tại cơ sở gà chọi L6, B xây sẵn 01 vi gà (bằng bê tông) và quây 01 vi gà để tổ chức đá gà. Ngoài ra, B còn chuẩn bị cân, đồng hồ, keo, chỉ… để tổ chức việc đá gà giữa các con bạc. Khi các chủ gà cáp độ được với nhau thì đều phải thông báo cho B để B trực tiếp cân gà, canh giờ các hồ (hiệp) đá gà. Mỗi con gà đá thắng, B thu chủ gà số tiền 400.000đồng; mỗi con gà đá thua, B thu chủ gà từ 200.000đồng đến 300.000đồng. Ngoài ra, để tăng thêm thu nhập, B còn bán nước, thuốc lá cho những người đến tham gia đá gà, cá cược với giá cao hơn nhằm thu lợi bất chính.
Khoảng 16 giờ ngày 01/02/2025, Công an tỉnh Đ phát hiện, bắt quả tang Lê Hùng Thiên B đang tổ chức cho hơn 40 đối tượng tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà, thắng thua bằng tiền mặt, thu giữ trên sới chọi gà số tiền hơn 113.000.000đồng; 06 con gà đá và cùng các tang vật phục vụ cho mục đích đánh bạc. Quá trình bắt người phạm tội quả tang, có một số đối tượng đã chạy thoát. Tại thời điểm bắt người phạm tội quả tang, trên sới gà chọi của Lê Hùng Thiên B có 03 cặp gà đã đá cược với nhau như sau:
- Cặp gà thứ nhất giữa gà Xám của Phạm Mạnh H3 và gà Tía của Đỗ Văn H2. Kết quả gà Xám của H3 thắng.
- Cặp gà thứ hai giữa gà Tía của Vương Khánh Đ (sinh năm 1977, nơi cư trú: Buôn K, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, nay là Buôn Ko H4, xã C, tỉnh Đắk Lắk) đá với gà Ô của một người đàn ông chưa xác định được lai lịch. Kết quả gà Tía của Đ thắng.
- Cặp gà thứ ba giữa gà Tía chân đen của Lâm Công H5 (sinh năm 1993, nơi cư trú: Buôn K, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, nay là Buôn Ko H4, xã C, tỉnh Đắk Lắk) và gà Tía chân vàng của Phùng Đức N4 (sinh năm 1987, nơi cư trú: thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, nay là thôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk). Khi chưa có kết quả đá gà thì bị phát hiện bắt quả tang.
Đánh bạc dưới hình thức đá gà: hai chủ gà thống nhất, hai con gà sẽ đá với nhau đến khi có một trong hai con bỏ chạy thì trận đá gà kết thúc. Hai con gà được cho đá theo từng “hồ”, mỗi “hồ” 20 phút, sau mỗi “hồ” gà sẽ được bắt ra để nghỉ ngơi, chăm sóc phục hồi sức khỏe trong thời gian 05 phút. Khi thống nhất đá với nhau, hai chủ gà sẽ thống nhất số tiền cá cược ban đầu khi chưa thả gà gọi là cược trong độ. Số tiền cược này cố định và không thay đổi cho đến khi trận đá gà kết thúc, bên nào thua sẽ phải chung cho bên thắng số tiền này (ngày 01/02/2025, các bị cáo thống nhất cá cược trong độ số tiền là 2.000.000đồng (hai triệu đồng) thắng 2.000.000đồng (hai triệu đồng), số tiền này ngoài hai chủ gà còn có nhiều người khác theo. Ngoài việc cá “cược trong độ” các đối tượng khác khi xem hai con gà đá với nhau có thể tham gia cá cược thêm gọi là “đá hàng xáo”. Việc “đá hàng xáo” do những người chơi tự cá cược với nhau, tỷ lệ cá cược thường xuyên thay đổi tùy thuộc vào diễn biến của trận đá gà. Hai chủ gà không biết việc các đối tượng dùng gà của mình để làm công cụ tham gia đánh bạc như thế nào, việc cá cược của các đối tượng “đá hàng xáo” do các đối tượng tự ghi nhận với nhau.
Cơ quan điều tra đã xác định được như sau:
1. Lê Hùng Thiên B: ngoài việc tổ chức đánh bạc dưới hình thức đá gà, Lê Hùng Thiên B còn trực tiếp tham gia đánh bạc dưới hình thức cá cược nhiều lượt. Cụ thể:
* Đối với cặp gà thứ nhất giữa gà Xám đá với gà Tía, B tham gia cá cược 06 lượt, gồm:
- Lần thứ nhất: khi Đỗ Văn H2 (chủ gà) chọn cược gà Tía đá thắng gà Xám với Lê Ngọc D, tỉ lệ cá cược 20.000.000đồng thắng 20.000.000đồng. Trong số tiền cược 20.000.000đồng của Đỗ Văn H2, thì Hoàng chia cho Lê Hùng Thiên B số tiền cược 1.000.000đồng, chia cho Nguyễn Tân K số tiền cược 2.000.000đồng, chia cho một người đàn ông tên B1 (chưa xác định nhân thân lai lịch) số tiền cược 2.000.000đồng, chia cho một người đàn ông tên B2 (chưa xác định nhân thân lai lịch) số tiền cược 1.000.000đồng, còn lại 14.000.000đồng của H2. Kết thúc đá gà thì các đối tượng sẽ chia nhau tiền thắng thua theo tỉ lệ góp tiền cược. Kết quả, gà Tía đá thua nên H2 thua cược số tiền 14.000.000đồng, B thua số tiền 1.000.000đồng, K thua số tiền 2.000.000đồng, B1 thua số tiền 2.000.000đồng, B2 thua số tiền 1.000.000đồng. B, K, B1, B2 đã đưa trả cho H2 số tiền cược tương ứng để H2 trả cho D.
- Lần thứ hai: B chọn cược gà Xám đá thắng gà Tía với Trần Đình T4, với tỷ lệ cược 1.000.000đồng thắng 1.000.000đồng. Kết quả, gà X1 đá thắng nên B thắng cược số tiền 1.000.000đồng, số tiền này T4 đã thanh toán cho B.
- Lần thứ ba: ở hồ T, Lê Ngọc D chọn cược gà Xám đá thắng gà T10 với Đỗ Văn H2 với tỷ lệ 10.000.000đồng thắng 4.000.000đồng. Trong kèo cá cược này, Lê Ngọc D chia cho Nguyễn Xuân K1 số tiền 5.000.000đồng và Lê Hùng Thiên B số tiền 5.000.000đồng. Kết quả, gà X1 đá thắng nên Danh thắng cược số tiền 4.000.000đồng và D đã trả cho B số tiền 2.000.000đồng.
- Lần thứ tư: B chọn cược gà Xám đá thắng gà Tía với Lê Xuân Q, với tỷ lệ cược 1.000.000đồng thắng 800.000đồng. Kết quả, gà X1 đá thắng nên B thắng cược số tiền 800.000đồng, số tiền này Q đã thanh toán cho B.
- Lần thứ năm: B chọn cược gà Xám đá thắng gà Tía với Nguyễn Xuân K1, với tỷ lệ cược 2.000.000đồng thắng 1.000.000đồng. Kết quả, gà X1 đá thắng nên B thắng số tiền 1.000.000đồng, số tiền này K1 đã thanh toán cho B.
- Lần thứ sáu: B chọn cược gà Xám đá thắng gà T10 với Võ Văn V1 với tỷ lệ cược 5.000.000đồng thắng 2.000.000đồng. Kết quả, gà X1 đá thắng nên B thắng số tiền 2.000.000đồng, số tiền này V1 đã thanh toán cho B.
Tổng số tiền Lê Hùng Thiên B đánh bạc trong cặp gà thứ nhất, gà X1 đá với gà T10 là 47.800.000đồng.
* Ở cặp gà thứ hai giữa gà Tía đá với gà Ô, B tham gia cá cược 02 lượt, gồm:
- Lần thứ nhất: B chọn cược gà Tía đá thắng gà Ô, với Lê Xuân Q với tỷ lệ cược 1.000.000đồng thắng 800.000đồng. Kết quả, gà T10 đá thắng nên B thắng số tiền 800.000đồng, số tiền này Q đã thanh toán cho B.
- Lần thứ hai: B chọn cược gà Tía đá thắng gà Ô, với Lê Xuân Q với tỷ lệ cược 1.000.000đồng thắng 800.000đồng. Trong kèo này, Q chia 400.000đồng cho Đặng Văn N5. Kết quả, gà T10 đá thắng nên B thắng cược số tiền 800.000đồng, số tiền này Q đã thanh toán cho B.
Tổng số tiền Lê Hùng Thiên B đánh bạc trong cặp gà thứ hai, gà Tía 3.600.000đồng.
2. Lê Ngọc D:
* Đối với cặp gà thứ nhất, gà Xám đá với gà T10, D cá cược 02 lượt, gồm:
- Lần thứ nhất: D chọn cược gà Xám đá thắng gà Tía với Đỗ Văn H2, với tỷ lệ cược số tiền 20.000.000đồng thắng 20.000.000đồng. Trong kèo cá cược này, D chia cho Trần Đình T4 số tiền 5.000.000đồng và chia cho Nguyễn Xuân Y số tiền 4.000.000đồng, còn lại 11.000.000đồng của D. Kết quả gà Xám đá thắng nên D, T4, Y cùng thắng cược số tiền 20.000.000đồng. D đã nhận tiền cược từ H2 và đưa cho T4, Y số tiền đã theo cược.
- Lần thứ hai: D chọn cược gà Xám đá thắng gà Tía với Đỗ Văn H2, với tỷ lệ cược số tiền 10.000.000đồng thắng 4.000.000đồng. Trong kèo cá cược này, D chia lại cho Nguyễn Xuân K1 số tiền 5.000.000đồng và chia cho Lê Hùng Thiên B số tiền 5.000.000đồng. Kết quả gà Xám đá thắng nên D, K1, B cùng thắng cược số tiền 4.000.000đồng, D đã nhận tiền và chia cho K1, B mỗi người 2.000.000đồng.
Tổng số tiền Lê Ngọc D tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà đối với cặp gà thứ nhất, gà T10 đá với gà Xám 54.000.000đồng.
* Ở cặp gà thứ ba giữa gà Tía chân vàng đá với gà Tía chân đen đá với nhau, D tham gia đặt cược 01 lần, D chọn cược gà Tía chân vàng đá thắng gà Tía chân đen, với Phan Văn H6 với tỷ lệ 1.000.000đồng thắng 400.000đồng. Khi cặp gà trên đang đá trong lúc đang chờ kết quả thắng thua thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang.
3. Trần Đình T4: tham gia cá cược 08 lượt đối với cặp gà thứ nhất giữa gà Tía đá với gà Xám, gồm:
- Lần thứ nhất: Thương chọn cược gà Xám đá thắng gà Tía với Phạm Mạnh H3, tỷ lệ cược 2.000.000đồng thắng 1.500.000đồng. Kết quả, gà Xám đá thắng nên T4 thắng cược số tiền 1.500.000đồng, số tiền này H3 đã thanh toán cho T4.
- Lần thứ hai: T4 chọn cược gà Xám đá thắng gà T10 với Nguyễn Tân K tỷ lệ cược 1.000.000đồng thắng 400.000đồng. Kết quả, gà Xám đá thắng nên T4 thắng cược số tiền 400.000đồng, số tiền này K đã thanh toán cho T4.
- Lần thứ ba: Khi biết Lê Ngọc D chọn cược gà Xám đá thắng gà Tía với Đỗ Văn H2, với tỷ lệ cược 20.000.000đồng thắng 20.000.000đồng, thì T4 nói D cho T4 được chia cược số tiền 5.000.000đồng trong số tiền 20.000.000đồng thì D đồng ý. Kết quả, gà Xám đá thắng nên T4 và Danh thắng cược số tiền 20.000.000đồng, trong đó: phần T4 thắng cược số tiền 5.000.000đồng, số tiền này D đã thanh toán cho T4.
- Lần thứ tư: T4 chọn cược gà Tía đá thắng gà Xám với Phạm Mạnh H3, với tỷ lệ cược 2.000.000đồng thắng 2.000.000đồng. Kết quả: gà T10 đá thua nên T4 thua số tiền 2.000.000đồng, số tiền này T4 đã thanh toán cho H3.
- Lần thứ năm: T4 chọn cược gà Tía đá thắng gà X1 với người đàn ông tên thường gọi Đ1 (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) với tỷ lệ cược 1.000.000đ thắng 1.000.000đồng. Kết quả, gà Xám đá thua, nên T4 thua số tiền 1.000.000đồng, số tiền này T4 đã thanh toán cho Đ1.
- Lần thứ sáu: T4 chọn cược gà Tía đá thắng gà Xám với Lê Hùng Thiên B, với tỷ lệ cược 1.000.000đồng thắng 1.000.000đồng. Kết quả: gà X1 đá thua nên T4 thua số tiền 1.000.000đồng, số tiền này T4 đã thanh toán cho B.
- Lần thứ bảy: T4 chọn cược gà Tía đá thắng gà Xám với Lê Xuân Q, với tỷ lệ cược 500.000đồng thắng 2.500.000đồng. Kết quả: gà X1 đá thua nên T4 thua số tiền 500.000đồng, số tiền này T4 đã thanh toán cho Q.
- Lần thứ tám: T4 chọn cược gà Tía đá thắng gà Xám 02 giá (02 lần) với Nguyễn Xuân K1, mỗi giá có tỷ lệ cược 500.000đồng thắng 1.000.000đồng. Kết quả: T4 thua cược 02 giá với tổng số tiền 1.000.000đồng. Số tiền này T4 đã thanh toán cho K1.
Tổng số tiền Trần Đình T4 đánh bạc dưới hình thức đá gà đối với cặp gà thứ nhất (gà Tía đá với gà X1) 50.400.000đồng.
4. Đỗ Văn H2:
* Đối với cặp gà thứ nhất giữa gà Xám đá với gà T10, H2 cá cược 04 lượt, gồm:
- Lần thứ nhất: khi cáp kèo cá cược trong độ (kèo đá chính) Hoàng chọn cược gà Tía đá thắng gà Xám với Phạm Mạnh H3, với tỷ lệ 2.000.000đồng thắng 2.000.000đồng. Trong kèo cược này, H2 chia lại cho 01 người thanh niên chưa rõ lai lịch số tiền 5.000.000đồng. Kết quả: gà T10 đã thua nên H2 và người nam thanh niên thua cược 2.000.000đồng. H2 đã thanh toán cho H3.
- Lần thứ hai: H2 chọn cược gà Tía đá thắng gà Xám với Phạm Mạnh H3, với tỷ lệ 1.500.000đồng thắng 2.000.000đồng. Kết quả: gà Tía đá thua nên H2 thua cược số tiền 1.500.000đồng. H2 đã thanh toán cho H3.
- Lần thứ ba: H2 chọn cược gà Tía đá thắng gà X1 với Lê Ngọc D với tỷ lệ 20.000.000đồng thắng 20.000.000đồng. Trong kèo cá cược này, H2 chia cho Lê Hùng Thiên B số tiền 1.000.000đồng, chia cho Nguyễn Tân K 2.000.000đồng, chia cho một người đàn ông tên B1 (chưa xác định được lai lịch) số tiền 2.000.000đồng và chia cho một người đàn ông tên B2 số tiền 1.000.000đồng, còn lại 14.000.000đồng của Đỗ Văn H2. Kết quả: gà T10 đá thua nên H2, B, K, B2, B1 cùng thua cược số tiền 20.000.000đồng. H2 đã thanh toán cho Lê Ngọc D.
- Lần thứ tư: H2 chọn cược giúp một người nam thanh niên (không xác định nhân thân lai lịch) chọn gà Tía đá thắng gà X1, với Lê Ngọc D, với tỷ lệ 4.000.000đồng thắng 10.000.000đồng. Kết quả: gà Tía đá thua nên H2 thua cược số tiền 4.000.000đồng, số tiền này người nam thanh niên đã đưa trả cho H2 và H2 đã đưa trả cho D.
Tổng số tiền Đỗ Văn H2 tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà đối với cặp gà thứ nhất (gà Tía đá với gà Xám) là 27.500.000đồng.
* Đối với cặp gà thứ hai giữa gà Tía đá với gà Ô, H2 chọn cược gà T10 đá thắng gà Ô với Đinh Văn H7 với tỷ lệ 1.400.000đồng thắng 2.000.000đồng. Kết quả: gà Tía đá thắng nên H2 thắng được số tiền 2.000.000đồng, số tiền này H7 đã thanh toán cho H2. Như vậy, số tiền Đỗ Văn H2 tham gia đánh bạc là 3.400.000đồng.
5. Lê Xuân Q:
* Đối với cặp gà thứ nhất giữa gà Tía đá với gà X1, Q cá cược 09 lần, gồm:
- Lần thứ nhất: Q chọn cược gà Xám đá thắng gà Tía với Đặng Văn N5, với tỷ lệ cược 500.000đồng thắng 500.000đồng. Kết quả: gà T10 đá thắng nên Q thắng cược số tiền 500.000đồng.
- Lần thứ hai: Q chọn cược gà Xám đá thắng gà Tía với Đặng Văn N5, với tỷ lệ cược 500.000đồng thắng 150.000đồng. Kết quả: gà X1 đá thắng nên Q thắng cược số tiền 150.000đồng.
- Lần thứ ba: Q chọn cược gà Xám đá thắng gà Tía với Nguyễn Xuân K1, với tỷ lệ cược 2.500.000đồng thắng 500.000đồng. Sau khi cáp kèo, Q chia lại ½ số tiền đã cá cược cho một người đàn ông tên H3 (chưa rõ lai lịch). Kết quả: gà X1 đá thắng nên Q và H3 cùng thắng số tiền 500.000đồng.
- Lần thứ tư: Q chọn cược gà Xám đá thắng gà T10 với đối tượng tên thường gọi là G (chưa xác định được lai lịch, nhà ở xã E, thành phố B (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk), với tỷ lệ cược 1.000.000đồng thắng 1.000.000đồng. Kết quả: gà X1 đá thắng nên Q thắng số tiền 1.000.000đồng.
- Lần thứ năm: Q chọn cược gà Xám đá thắng gà Tía với Trần Văn T11, với tỷ lệ cược 1.000.000đồng thắng 500.000đồng. Kết quả: gà X1 đá thắng nên Q thắng số tiền 500.000đồng.
- Lần thứ sáu: Q chọn cược gà Xám đá thắng gà T10 với người đàn ông tên thường gọi là B3 (chưa xác định nhân thân, lai lịch), với tỷ lệ cược 2.000.000đồng thắng 500.000đồng. Kết quả: gà X1 đá thắng nên Q thắng số tiền 500.000đồng.
- Lần thứ bảy: Q chọn cược gà Tía đá thắng gà Xám với Nguyễn Xuân K1, với tỷ lệ cược 1.200.000đồng thắng 2.000.000đồng. Kết quả: gà T10 đá thua nên Q thua số tiền 1.200.000đồng.
- Lần thứ tám: Q chọn cược gà Tía đá thắng gà X1 với với Trần Văn T11, với tỷ lệ cược 1.000.000đồng thắng 500.000đồng. Kết quả: gà T10 đá thua nên Q thua số tiền 1.000.000đồng.
- Lần thứ chín: Q chọn cược gà Tía đá thắng gà X1 với với Lê Hùng Thiên B, với tỷ lệ cược 1.000.000đồng thắng 800.000đồng. Kết quả: gà T10 đá thua nên Q thua số tiền 1.000.000đồng.
Tổng số tiền Lê Xuân Q tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà đối với cặp gà thứ nhất (gà Tía đá với gà Xám) là 13.850.000đồng.
* Đối với cặp gà thứ hai giữa gà Tía đá với gà Ô, Q cá cược 07 lần, gồm:
- Lần thứ nhất: Q chọn cược gà Tía đá thắng gà Ô với Lê Thái N6 - sinh năm 1983, trú tại: Buôn B, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk), với tỷ lệ cược 900.000đồng thắng 2.000.000đồng. Kết quả: gà T10 đá thắng nên Q thắng số tiền 2.000.000đồng.
- Lần thứ hai: Q chọn cược gà Tía đá thắng gà Ô với người đàn ông tên B1, trú tại: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (chưa xác định được nhân thân, lai lịch), với tỷ lệ cược 1.000.000đồng thắng 2.000.000đồng. Sau khi cáp kèo cá cược, Q chia lại hết kèo này cho người đàn ông tên B1 (chưa rõ lai lịch). Kết quả: gà T10 đá thắng nên Q và B1 thắng số tiền 2.000.000đồng.
- Lần thứ ba: Q chọn cược gà Tía đá thắng gà Ô với Trần Hữu P với tỷ lệ cược 500.000đồng thắng 1.000.000đồng. Kết quả: gà T10 đá thắng nên Q thắng số tiền 1.000.000đồng.
- Lần thứ tư: Q chọn cược gà Tía đá thắng gà Ô với Phạm Xuân B4 - sinh năm 1981, trú tại: TDP A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã K, tỉnh Đắk Lắk) với tỷ lệ cược 500.000đồng thắng 1.000.000đồng. Sau khi cáp kèo cá cược, Q chia lại kèo này cho Đặng Văn N5. Kết quả: gà T10 đá thắng nên Q và N5 thắng số tiền 1.000.000đồng.
- Lần thứ năm: Q chọn cược gà Ô đá thắng gà T10 với Lê Hùng Thiên B với tỷ lệ cược 800.000đồng thắng 1.000.000đồng. Sau khi cáp kèo cá cược, Q chia lại kèo này cho Đặng Văn N5. Kết quả: gà Ô đá thua nên Q và N5 thua số tiền 800.000đồng.
- Lần thứ sáu: Q chọn cược gà Ô đá thắng gà T10 với Trần Hữu P với tỷ lệ cược 500.000đồng thắng 2.000.000đồng. Kết quả: gà Ô đá thua nên Q thua số tiền 500.000đồng.
- Lần thứ bảy: Q chọn cược gà Ô đá thắng gà Tía với người đàn ông tên B4, trú tại: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (chưa xác định nhân thân, lai lịch), với tỷ lệ cược 300.000đồng thắng 1.000.000đồng. Kết quả: gà Ô đá thua nên Q thua số tiền 300.000đồng.
Tổng số tiền Lê Xuân Q đánh bạc dưới hình thức đá gà đối với cặp gà thứ hai (gà Tía đá với gà Ô) là 10.500.000đồng.
* Đối với cặp gà thứ ba giữa gà Tía chân vàng đá với gà Tía chân đen: Q chọn cược gà Tía chân đen đá thắng gà Tía chân vàng với Trần Văn T11, với tỷ lệ cược 1.000.000đồng thắng 200.000đồng. Kết quả: tại thời điểm bắt quả tang thì chưa có kết quả thắng thua.
6. Nguyễn Xuân K1 tham gia cá cược 11 lần đối với cặp gà thứ nhất giữa gà Tía đá với gà X1, K1, gồm:
- Lần thứ nhất: khi K1 đến sới đá gà sau nên hỏi ai có cược giá nào thì chia lại K1 một giá. Khương được Lê Ngọc D chia một giá. K1 và một người nam thanh niên tên B3 (chưa xác định nhân thân, lai lịch) nhà ở thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cùng chung nhau một giá đối với kèo chọn cược gà Xám đá thắng gà T10 (trong kèo của Lê Ngọc D với Đỗ Văn H2) với giá trị 5.000.000đồng nếu thắng thì K1 và B3 cùng thắng được 2.000.000đồng. Kết quả: gà X1 đá thắng nên K1 và B3 mỗi người cùng thắng được số tiền 2.000.000đồng. Mỗi người thắng được 1.000.000đồng.
- Lần thứ hai: Khương chọn cược gà Xám đá thắng gà Tía với Võ Văn V1, với tỷ lệ cược 1.000.000đồng thắng 800.000đồng. Kết quả: gà X1 đá thắng nên K1 thắng số tiền 800.000đồng.
- Lần thứ ba: Khương chọn cược gà Xám đá thắng gà Tía với Nguyễn Tân K, với tỷ lệ cá cược 2.000.000đồng thắng 1.000.000đồng. Kết quả: Khương thắng số tiền 1.000.000đồng.
- Lần thứ tư: Khương chọn cược gà Xám đá thắng gà Tía với Lê Xuân Q, với tỷ lệ cược 2.000.000đồng thắng 1.200.000đồng. Kết quả: gà X1 đá thắng nên K1 thắng số tiền 1.200.000đồng.
- Lần thứ năm: Khương chọn cược gà Xám đá thắng gà Tía với Trần Đình T4, với tỷ lệ cược 1.000.000đồng thắng 500.000đồng. Kết quả: gà X1 đá thắng nên K1 thắng số tiền 500.000đồng.
- Lần thứ sáu: Khương chọn cược gà Xám đá thắng gà Tía với Nguyễn Tân K, với tỷ lệ cược 700.000đồng thắng 1.000.000đồng. Kết quả: gà X1 đá thắng nên K1 thắng số tiền 1.000.000đồng.
- Lần thứ bảy: Khương chọn cược gà Xám đá thắng gà Tía với Trần Đình T4, với tỷ lệ cược 1.000.000đồng thắng 500.000đồng. Kết quả: gà X1 đá thắng nên K1 thắng số tiền 500.000đồng.
- Lần thứ tám: Khương chọn cược gà Tía đá thắng gà Xám với Lê Xuân Q, với tỷ lệ cược 500.000đồng thắng 2.500.000đồng. Kết quả: gà T10 đá thua nên K1 thua số tiền 500.000đồng.
- Lần thứ chín: Khương chọn cược gà Tía đá thắng gà Xám với Lê Hùng Thiên B, với tỷ lệ cược 1.000.000đồng thắng 2.000.000đồng. Kết quả: gà T10 đá thua nên K1 thua số tiền 1.000.000đồng.
- Lần thứ mười: Khương chọn cược gà Tía đá thắng gà Xám với Lê Hùng T1 - sinh năm 1951, trú tại: buôn B, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk), với tỷ lệ cược 400.000đồng thắng 1.000.000đồng. Kết quả: gà T10 đá thua nên K1 thua số tiền 400.000đồng.
- Lần thứ mười một: đặt cược gà Tía với Nguyễn Hoàng N7 (N7 đặt cược gà X1) số tiền 250.000đồng thắng 1.000.000đồng. Kết quả: Khương thua số tiền 250.000đồng.
Tổng số tiền Nguyễn Xuân K1 đánh bạc dưới hình thức đá gà đối với cặp gà thứ nhất (gà Tía đá với gà Xám) là 21.850.000đồng.
7. Nguyễn Tân K tham gia đánh bạc 04 lượt đối với cặp gà thứ nhất giữa gà Tía đá với gà Xám, gồm:
- Lần thứ nhất: Khoa biết Đỗ Văn H2 đặt cược cho gà Tía đá thắng gà Xám với Lê Ngọc D, với số tiền cược 20.000.000đồng thắng 20.000.000đồng. Lúc này K xin H2 chia lại cho K theo số tiền 2.000.000đồng trong tổng số 20.000.000đồng thì được H2 đồng ý. Kết quả: gà T10 đá thua nên H2 thua cược nên K đã đưa trả cho H2 số tiền 2.000.000đồng để thanh toán với D.
- Lần thứ hai: Khoa chọn cược gà Xám đá thắng gà Tía với Võ Văn V1, với tỷ lệ cược 800.000đồng thắng 2.000.000đồng. Kết quả: gà Xám đá thắng nên K thắng được số tiền 2.000.000đồng, số tiền này V1 đã thanh toán cho K.
- Lần thứ ba: Khoa chọn cược gà Xám đá thắng gà Tía với Võ Văn V1, với tỷ lệ cược 2.000.000đồng thắng 1.000.000đồng. Kèo này K cược giúp cho Trần Văn T11. Kết quả: gà Xám đá thắng nên K thắng 1.000.000đồng, số tiền này V1 đã thanh toán cho K và K đã đưa số tiền này cho Trần Văn T11.
- Lần thứ tư: Khoa chọn cược gà Xám đá thắng gà Tía với Võ Văn V1, với tỷ lệ cược 1.000.000đồng thắng 800.000đồng. Kèo này K cược giúp cho người đàn ông tên Đ1 (chưa xác định nhân thân, lai lịch). Kết quả: gà Xám đá thắng nên K thắng 800.000đồng, số tiền này V1 đã thanh toán cho K và K đã đưa cho Đ1.
Tổng số tiền K đánh bạc dưới hình thức đá gà đối với cặp gà thứ nhất (gà Xám đá với gà Tía) là 27.600.000đồng.
8. Trần Hữu P tham gia đánh bạc 03 lượt đối với cặp gà thứ hai giữa gà Tía đá với gà Ô, gồm:
- Lần thứ nhất: P chọn cược gà Ô đá thắng gà Tía với Lê Xuân Q, với tỷ lệ cược 1.000.000đồng thắng 500.000đồng. Kết quả: gà Ô đá thua nên P thua số tiền 1.000.000đồng.
- Lần thứ hai: P chọn cược gà Tía đá thắng gà Ô với Đinh Văn H7, với tỷ lệ cược 500.000đồng thắng số tiền 1.000.000đồng. Kết quả: gà T10 đá thắng nên P thắng số tiền 1.000.000đồng.
- Lần thứ ba: P chọn cược gà Tía đá thắng gà Ô với Lê Xuân Q, với tỷ lệ cược 2.000.000đồng thắng 500.000đồng. Kết quả: gà T10 đá thắng nên P thắng số tiền 500.000đồng.
Tổng số tiền Trần Hữu P đánh bạc dưới hình thức đá gà đối với cặp gà thứ hai (gà Tía đá với gà Ô) là 5.000.000đồng.
9. Nguyễn Xuân Y: khi biết Đỗ Văn H2 chọn cược cho cặp gà thứ nhất (gà Tía đá thắng gà X1) với Lê Ngọc D tỷ lệ cược 20.000.000đồng thắng 20.000.000đồng thì Y xin Lê Ngọc D chia lại cho Y theo 4.000.000đồng trong tổng số 20.000.000đồng. Trong số tiền 4.000.000đồng này, Y tiếp tục chia lại cho người đàn ông tên B3 (chưa xác định nhân thân, lai lịch) 2.000.000đồng. Kết quả: Danh thắng số tiền 20.000.000đồng và D đã thanh toán cho Y 4.000.000đồng, Y chia cho Bè 2.000.000đồng. Như vậy, số tiền Nguyễn Xuân Y phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc là 40.000.000đồng.
Ngoài ra, trong vụ án còn có Phạm Mạnh H3, Võ Văn V1, Đinh Văn H7, Nguyễn Tấn T12, Trần Văn T11 có hành vi đánh bạc dưới hình thức đá gà nhằm thu lợi bất chính.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm 148/2025/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 112/2025/TB-TA ngày 15/10/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
1. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm b, c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Lê Hùng Thiên B 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”, 02 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.
Tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội buộc bị cáo Lê Hùng Thiên B phải chấp hành là 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/6/2025 đến ngày 07/6/2025.
Phạt bổ sung bị cáo Lê Hùng Thiên B 10.000.000đ (mười triệu đồng) về tội “Đánh bạc” và 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) về tội “Tổ chức đánh bạc”. Tổng cộng 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).
2. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Lê Ngọc D 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2025 đến ngày 12/02/2025.
Phạt bổ sung bị cáo Lê Ngọc D 10.000.000đ (mười triệu đồng).
3. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Trần Đình T4 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị cáo đã bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2025 đến ngày 12/02/2025.
Phạt bổ sung bị cáo Trần Đình T4 10.000.000đ (mười triệu đồng).
4. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Lê Xuân Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2025 đến ngày 12/02/2025.
Phạt bổ sung bị cáo Lê Xuân Q 10.000.000đ (mười triệu đồng).
5. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt:
- Nguyễn Xuân K1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Xuân K1 10.000.000đ (mười triệu đồng).
- Nguyễn Xuân Y 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị cáo đã bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2025 đến ngày 12/02/2025.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Xuân Y 10.000.000đ (mười triệu đồng).
6. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Tân K, Trần Hữu P, Đỗ Văn H2; áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với Đỗ Văn H2; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với Trần Hữu P; xử phạt:
- Nguyễn Tân K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2025 đến ngày 12/02/2025.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Tân K 10.000.000đ (mười triệu đồng).
- Trần Hữu P 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2025 đến ngày 12/02/2025.
Phạt bổ sung bị cáo Trần Hữu P 10.000.000đ (mười triệu đồng).
- Đỗ Văn H2 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2025 đến ngày 12/02/2025.
Phạt bổ sung bị cáo Đỗ Văn H2 10.000.000đ (mười triệu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với Võ Văn V1, Phạm Mạnh H3, Đinh Văn H7, Nguyễn Tấn T12, Trần Văn T11, quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong hạn luật định, các bị cáo Lê Hùng Thiên B, Lê Ngọc D, Trần Đình T4, Lê Xuân Q, Trần Hữu P, Đỗ Văn H2, Nguyễn Xuân K1, Nguyễn Xuân Y kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ. Bị cáo Nguyễn Tân K kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Các bị cáo Lê Hùng Thiên B, Lê Ngọc D, Trần Đình T4, Lê Xuân Q, Nguyễn Tân K, Trần Hữu P, Đỗ Văn H2, Nguyễn Xuân K1, Nguyễn Xuân Y giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng về việc giải quyết vụ án:
+ Trong vụ án này, bị cáo Lê Hùng Thiên B là người giữ vai trò chính, trực tiếp chuẩn bị công cụ, phương tiện, đứng ra tổ chức cho trên 40 người cá cược ăn thua với tổng số tiền bị thu giữ trên 113.000.000đồng, thu lợi bất chính 700.000đồng. Bản thân bị cáo còn trực tiếp cá cược, ăn thua với số tiền 51.400.000đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội “Đánh bạc” và 02 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” là có căn cứ và đúng quy định.
+ Các bị cáo Lê Ngọc D, Trần Đình T4 là những người có nhân thân xấu, đã từng bị kết án hoặc xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc. Các bị cáo phạm tội với số tiền phạm tội lớn nhất so với các bị cáo tham gia đánh bạc trong vụ án (bị cáo Lê Ngọc D cá cược với số tiền đánh bạc 54.000.000đồng, bị cáo Trần Đình T4 cá cược với số tiền đánh bạc 50.400.000đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt mỗi bị cáo 03 năm tù là đã thể hiện sự khoan hồng của pháp luật vì đây là mức thấp nhất của khung hình phạt.
+ Bị cáo Lê Xuân Q trực tiếp cá cược đá gà với số tiền 24.350.000đồng, trong đó có hai lần cá cược số tiền 5.000.000đồng nên phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Xuân K1 trực tiếp cá cược với số tiền 21.850.000đồng. Nguyễn Xuân Y thống nhất cùng bị cáo Lê Ngọc D tham gia cá cược với số tiền 40.000.000đồng. Sau khi phạm tội, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Q lần đầu phạm tội, có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Các bị cáo K1, Y lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo, áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo K1, Y và áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Q, tuyên phạt bị cáo Q 01 năm 06 tháng, K1, Y mỗi bị cáo 01 năm 03 tháng tù về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng pháp luật.
+ Bị cáo Nguyễn Tân K đã từng bị kết án về tội “Đánh bạc”, bị cáo Trần Hữu P đã từng bị kết án và bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”, bị cáo Đỗ Văn H2 đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” nhưng các bị cáo lại tiếp tục cá cược đá gà ăn thua bằng tiền. Trong đó: bị cáo K cá cược với số tiền 27.600.000đồng, bị cáo H2 30.900.000đồng, bị cáo P 5.000.000đồng. Sau khi phạm tội, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo P có người thân có công cách mạng. Bị cáo H2 lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo, áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H2, áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo P và xử phạt bị cáo K 01 năm 03 tháng tù, các bị cáo P, H2 mỗi bị cáo 01 năm tù là đã thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo.
Tại cấp phúc thẩm: các bị cáo Lê Hùng Thiên B, Lê Ngọc D, Trần Đình T4, Lê Xuân Q, Nguyễn Xuân K1, Nguyễn Xuân Y, Trần Hữu P, Đỗ Văn H2 có cung cấp chứng từ nộp phạt bổ sung, nộp án phí sơ thẩm. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo B là người giữ vai trò chính trong vụ án, các bị cáo còn lại đều có nhân thân xấu hoặc phạm tội nhiều lần. Riêng hai bị cáo K1, Y có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Hùng Thiên B, Lê Ngọc D, Trần Đình T4, Lê Xuân Q, Nguyễn Tân K, Trần Hữu P, Đỗ Văn H2 và giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân K1 và bị cáo Nguyễn Xuân Y và giữ nguyên mức hình phạt nhưng áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, cho các bị cáo Nguyễn Xuân K1 và Nguyễn Xuân Y được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của các bị cáo Lê Hùng Thiên B, Lê Ngọc D, Trần Đình T4, Lê Xuân Q, Nguyễn Tân K, Trần Hữu P, Đỗ Văn H2, Nguyễn Xuân K1, Nguyễn Xuân Y: tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: ngày 01/02/2025, Lê Hùng Thiên B sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý, sử dụng của mình tại Buôn B, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk) để tổ chức cho hơn 40 đối tượng tham gia đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đá gà nhằm thu lợi bất chính thì bị bắt quả tang, số tiền thu giữ hơn 113.000.000đồng. Ngoài ra, Lê Hùng Thiên B còn cùng các bị cáo khác tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà, thắng thua bằng tiền mặt. Cụ thể: Lê Hùng Thiên B cá cược 08 lượt với hai cặp gà, số tiền đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự 51.400.000đồng; Lê Ngọc D cá cược 03 lượt với hai cặp gà, số tiền đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự 54.000.000đồng; Trần Đình T4 cá cược 08 lượt với 01 cặp gà, số tiền đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự 50.400.000đồng; Đỗ Văn H2 cá cược 05 lượt với hai cặp gà, số tiền đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự 30.900.000đồng; Lê Xuân Q cá cược 17 lượt với ba cặp gà, số tiền đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự 24.350.000đồng, trong đó có 02 lần đánh bạc với số tiền trên 5.000.000đồng; Nguyễn Xuân K1 cá cược 11 lượt với một cặp gà, số tiền đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự 21.850.000đồng; Nguyễn Tân K cá cược 04 lượt với một cặp gà, số tiền đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự 27.600.000đồng; Trần Hữu P cá cược 03 lượt với một cặp gà, số tiền đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự 5.000.000đồng; Nguyễn Xuân Y cùng Lê Ngọc D tham gia đánh bạc 01 lượt dưới hình thức đá gà với một cặp gà, được D chia số tiền đánh bạc 4.000.000đồng, cùng chịu trách nhiệm hình sự với Lê Ngọc Danh số tiền đánh bạc 40.000.000đồng. Hành vi của các bị cáo không chỉ xâm phạm vào trật tự an toàn công cộng mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Xét Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo Lê Hùng Thiên B về các tội “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc” và xử các bị cáo Lê Ngọc D, Trần Đình T4, Lê Xuân Q, Nguyễn Tân K, Đỗ Hữu P1, Đỗ Văn H2, Nguyễn Xuân Y, Nguyễn Xuân K1 đều về tội “Đánh bạc” là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Lê Hùng Thiên B, bị cáo Lê Ngọc D, bị cáo Trần Đình T4, bị cáo Lê Xuân Q, bị cáo Nguyễn Tân K, bị cáo Trần Hữu P, bị cáo Đỗ Văn H2, bị cáo Nguyễn Xuân K1 và bị cáo Nguyễn Xuân Y, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo Lê Hùng Thiên B là người giữ vai trò chính trong vụ án. Bị cáo B là người trực tiếp chuẩn bị công cụ, phương tiện để tổ chức cho trên 40 người cá cược ăn thua với tổng số tiền bị thu giữ trên 113.000.000đồng, thu lợi bất chính số tiền 700.000đồng. Ngoài ra, bị cáo B còn trực tiếp tham gia cá cược thu lợi bất chính số tiền 51.400.000đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân của bị cáo lần đầu vi phạm pháp luật; có hoàn cảnh gia đình thật sự khó khăn được chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú xác nhận; bị cáo đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; quá trình sinh sống tại địa phương có cung cấp thông tin về một số đối tượng có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Vì vậy, bị cáo B được áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Mặc dù sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo B xuất trình tài liệu thể hiện đã nộp số tiền 55.600.000đồng (gồm: tiền phạt bổ sung, truy thu sung ngân sách Nhà nước và án phí hình sự sơ thẩm), bị cáo còn được Ban Chấp hành Đoàn xã E tặng Giấy khen, nhưng xét mức án 01 năm tù về tội “Đánh bạc” và 02 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” là phù hợp, không nặng nên Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo B, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.
Đối với các bị cáo Lê Ngọc D đã từng bị kết án về tội “Đánh bạc”, bị cáo Trần Đình T4 đã từng bị kết án về tội “Gây rối trật tự công cộng” và bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Trong vụ án này, bị cáo Lê Ngọc D cá cược với số tiền đánh bạc 54.000.000đồng, bị cáo Trần Đình T4 cá cược với số tiền đánh bạc 50.400.000đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và đã xem xét nhân thân của các bị cáo, xử phạt mỗi bị cáo 03 năm tù. Mặc dù sau khi xét xử sơ thẩm, cả hai bị cáo đều xuất trình tài liệu thể hiện đã nộp tiền phạt bổ sung, truy thu sung ngân sách Nhà nước và án phí hình sự sơ thẩm (bị cáo D nộp số tiền 32.200.000đồng và bị cáo T4 nộp số tiền 31.600.000đồng); đồng thời, bị cáo T4 có đóng góp cứu trợ đồng bào miền T bị ảnh hưởng bão lũ nhưng xét mức án 03 năm tù đối với mỗi bị cáo là phù hợp, mới ở mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Ngọc D và bị cáo Trần Đình T4.
Bị cáo Lê Xuân Q tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà với số tiền 24.350.000đồng, trong đó có hai lần đánh bạc số tiền trên 5.000.000đồng nên phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo, xử phạt bị cáo Q mức án 01 năm 06 tháng tù. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Q xuất trình tài liệu thể hiện đã nộp số tiền 34.550.000đồng (gồm: tiền phạt bổ sung, truy thu sung ngân sách Nhà nước và án phí hình sự sơ thẩm); đồng thời, bị cáo có đóng góp cứu trợ đồng bào miền T bị ảnh hưởng bão lũ. Xét bị cáo Q trước đó có quá trình nhân thân tốt, số tiền phạm tội thấp hơn các bị cáo B, D, T4 nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Q, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Bị cáo Nguyễn Xuân K1 tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà với số tiền 21.850.000đồng. Bị cáo Nguyễn Xuân Y cùng Lê Ngọc D tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà với số tiền 40.000.000đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt mỗi bị cáo 01 năm 03 tháng tù là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo K1 và Y đều xuất trình tài liệu chứng cứ mới thể hiện đã nộp tiền phạt bổ sung, truy thu sung ngân sách Nhà nước và án phí hình sự sơ thẩm (bị cáo K1 nộp số tiền 32.050.000đồng, bị cáo Y nộp số tiền 18.200.000đồng), bị cáo Y có đóng góp cứu trợ đồng bào miền T bị ảnh hưởng bão lũ. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho cả hai bị cáo. Xét bị cáo Nguyễn Xuân K1 và bị cáo Nguyễn Xuân Y trước đó có quá trình nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời, xét bị cáo K1 và bị cáo Y đều có khả năng tự cải tạo tại địa phương, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định nên không cần thiết xử phạt tù giam đối với hai bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo K1 và bị cáo Y, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng.
Bị cáo Nguyễn Tân K và bị cáo Trần Hữu P đã từng bị kết án về tội “Đánh bạc”. Bị cáo Trần Hữu P và bị cáo Đỗ Văn H2 còn bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Trong vụ án này, bị cáo K đánh bạc dưới hình thức đá gà với số tiền 27.600.000đồng, bị cáo H2 đánh bạc dưới hình thức đá gà với số tiền 30.900.000đồng, bị cáo P đánh bạc dưới hình thức đá gà với số tiền 5.000.000đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H2 và áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo P, xử phạt bị cáo K 01 năm 03 tháng tù, bị cáo P và bị cáo H2 mỗi bị cáo 01 năm tù. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo P và bị cáo H2 đều xuất trình tài liệu chứng cứ mới thể hiện đã nộp tiền phạt bổ sung, truy thu sung ngân sách Nhà nước và án phí hình sự sơ thẩm (bị cáo P nộp số tiền 10.200.000đồng, bị cáo H2 nộp số tiền 41.100.000đồng) và các bị cáo P, H2 có đóng góp cứu trợ đồng bào miền T bị ảnh hưởng bão lũ. Xét bị cáo P là người cao tuổi, số tiền đánh bạc ít nhất trong vụ án (bằng bị cáo Trần Văn T11); bị cáo H2 có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo H2 và bị cáo P, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt. Đối với bị cáo K: mức án 01 năm 03 tháng tù là phù hợp, không nặng, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.
Về án phí: các bị cáo Lê Hùng Thiên B, Trần Đình T4, Lê Ngọc D, Nguyễn Tân K phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo Lê Xuân Q, Đỗ Văn H2, Trần Hữu P, Nguyễn Xuân K1, Nguyễn Xuân Y không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hùng Thiên B, bị cáo Lê Ngọc D, bị cáo Trần Đình T4, bị cáo Nguyễn Tân K và giữ nguyên hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 148/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân K1, bị cáo Nguyễn Xuân Y, bị cáo Đỗ Văn H2, bị cáo Trần Hữu P, bị cáo Lê Xuân Q. Sửa phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 148/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm b, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Lê Hùng Thiên B 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”, 02 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.
Tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội buộc bị cáo Lê Hùng Thiên B phải chấp hành là 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/6/2025 đến ngày 07/6/2025.
2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Lê Ngọc D 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 01/02/2025 đến ngày 12/02/2025.
3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Trần Đình T4 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 01/02/2025 đến ngày 12/02/2025.
4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Lê Xuân Q 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 01/02/2025 đến ngày 12/02/2025.
5. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Xuân K1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Xuân K1 cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Đắk Lắk để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Đắk Lắk trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
6. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Xuân Y 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Xuân Y cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Đắk Lắk để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Đắk Lắk trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
7. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Tân K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 01/02/2025 đến ngày 12/02/2025.
8. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đỗ Văn H2 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2025 đến ngày 12/02/2025.
9. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Hữu P 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 01/02/2025 đến ngày 12/02/2025.
10. Tiếp tục tạm giữ số tiền mà bị cáo Lê Hùng Thiên B, bị cáo Trần Đình T4, bị cáo Lê Ngọc D, bị cáo Nguyễn Xuân K1, bị cáo Nguyễn Xuân Y, bị cáo Đỗ Văn H2, bị cáo Lê Xuân Q, bị cáo Trần Hữu P đã nộp tại các Biên lai thu tiền số 0000571, số 0000567, số 0000565, số 0000562, số 0000564, số 0000569, số 0000566 cùng ngày 15/10/2025, số 0000597 ngày 17/10/2025 và số 0000747 ngày 30/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk để đảm bảo thi hành án.
11. Về án phí phúc thẩm:
- Các bị cáo Lê Hùng Thiên B, Trần Đình T4, Lê Ngọc D, Nguyễn Tân K - mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các bị cáo Nguyễn Xuân K1, Nguyễn Xuân Y, Đỗ Văn H2, Trần Hữu P, Lê Xuân Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
12. Các quyết định khác còn lại của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tối cao; - Viện CT và KSXXPT tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Cơ quan CSĐT-Công an tỉnh Đắk Lắk; - Phòng HSNV-Công an tỉnh Đắk Lắk; - Cơ quan CSTHAHS-CA tỉnh Đắk Lắk; - THADS tỉnh Đắk Lắk; - Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk; - Bị cáo; - Lưu HSVA, PHCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Liên |