vanban.org

Bản án 90/2026/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 06/02/2026 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/02/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phan Thanh B và bà Ngô Thị Bích Hạnh;

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 102/2025/DS-ST ngày 16/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Đắk Lắk. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L, bà Võ Thị Thu H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "đòi lại đất bị lấn chiếm"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phan Thanh B và bà Ngô Thị Bích Hạnh;
  • Căn cứ chính? Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 Luật Đất đai; Điều 1 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2026/DS-PT
Ngày: 06 - 02-2026
“V/v Đòi lại đất bị lấn chiếm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Quang;

Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Tuyết và bà Lưu Thị Thu Hường;

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Tân – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 614/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 12 năm 2025 về “ Đòi lại đất bị lấn chiếm ”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 102/2025/DSST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2026/QĐXXPT-DS ngày 15 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh Lạt, sinh năm 1965 và bà V Thị Thu H, sinh năm 1972; có mặt.

C ng địa chỉ: Số 558/ Nguyễn Văn C , t dân phố 8, phường Tân Lập, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ c : Số 558/ Nguyễn Văn C , t dân phố 8, phường Tân Lập, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk).

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Thanh L và bà Võ Thị Thu H: Ông Nguyễn Trung Sĩ, sinh năm 1983 – Luật sư Công ty Luật TNHH MTV Nguyễn Trung và Cộng sự - Đoàn Luật sư tỉnh Đắk Lắk; Địa chỉ: Số 1 /1/ Nguyễn Đ nh Chiểu nối dài, phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ c : Số 1 /1/ Nguyễn Đ nh Chiểu nối dài, phường Tân Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; ông Sĩ có mặt.

2/ Bị đơn: Ông Phan Thanh B nh, sinh năm 1970 và bà Ngô Thị Bích Hạnh, sinh năm: 1983; có mặt.

C ng địa chỉ: Số 5 Phạm Văn Đ ng, phường Tân Lập, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ c : Số 5 Phạm Văn Đ ng, phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk).

3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H ng Thúy, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số /15 đường Ngô Chí Quốc, phường Tân Lập, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ c : Số /15 đường Ngô Chí Quốc, phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk); vắng mặt.

4/ Người kháng cáo: Bị đơn ông Phan Thanh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá tr nh giải quyết và tài phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L và bà V Thị Thu H trình bày:

Năm 2 1 vợ ch ng tôi có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bà Nguyễn Thị H ng Thúy. Diện tích đất nhận chuyển nhượng là 212,9m2 trên diện tích đất có căn nhà cấp (diện tích xây dựng 60m2) thuộc thửa đất số 3 , tờ bản đ số tọa lạc tại phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường Tân Lập, tỉnh Đắk Lắk). Việc nhận chuyển nhượng được hai bên lập văn bản có chứng nhận của Phòng công chứng số 2 tỉnh Đắk Lắk và đã hoàn thành thủ tục thủ chuyển quyền sang tên vợ ch ng tôi theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CM 1

3 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 21/12/2 1 . Đất có vị trí tứ cận như sau: Phía Bắc giáp thửa đất số 21 và thửa đất số 1 8; Phía Nam giáp đường Phạm Văn Đ ng; Phía Đông giáp thửa đất số 1 ; Phía Tây giáp thửa đất số .

Sau khi thực hiện các thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ ch ng tôi và bà Nguyễn Thị H ng Thúy đã xong th bà Thúy có đề nghị tôi cắt 1 phần diện tích đất có kích thước h nh tam giác chiều ngang 2,2m phía sau thửa đất số 3 , tờ bản đ số (giáp ranh thửa đất số 21), chiều dài 25,55m của vợ ch ng tôi chuyển nhượng cho em ruột của bà Thúy là bà Nguyễn Thị Thơ để bà Thơ nhập vào thửa đất số 1 , tờ bản đ số làm cho thửa đất của bà Thơ có h nh thể thửa đất được đẹp hơn, kích thước chiều ngang phía sau 7,50m, giáp ranh thửa đất số 21, chiều ngang phía trước thửa đất 7,36m. Còn bà Thúy sẽ cắt một phần diện tích đất có kích thước chiều ngang 2,2m ở phía sau thửa đất số , tờ bản đ số (giáp ranh thửa đất số 1 8), chiều dài 25, m của bà Thúy chuyển nhượng cho vợ ch ng tôi để vợ ch ng tôi nhập vào thửa đất số 3 , tờ bản đ số . Sau khi tách nhập xong th chiều ngang phía sau thửa đất của bà Thơ tăng thêm 2,2m, phía sau thửa đất của bà Thúy giảm 2,2m còn chiều ngang phía sau thửa đất của tôi vẫn không thay đ i (tức là diện tích thửa đất của vợ ch ng tôi không thay đ i). Nghĩ về t nh hàng xóm láng giềng và diện tích thửa đất của vợ ch ng tôi sau khi tách nhập một phần diện tích đất vẫn đúng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên tôi đã đ ng ý. Ba người đã ký thỏa thuận bằng giấy viết tay ngày 2 /11/2 1 . Sau đó tôi tiến hành xây dựng móng kiên cố ở phía sau thửa đất mà vợ ch ng tôi nhận chuyển nhượng của cô Thúy và có xây dựng thêm qua thửa đất của cô Thúy với kích thước chiều rộng 2,2m theo chỉ dẫn của cô Thúy, chiều dài thửa đất giáp ranh với cô Thúy th tôi làm khung kèo sắt, lợp lại mái nhà c giáp ranh với nhà của cô Thúy và phần giáp ranh đất trống không có nhà tôi chỉ cắm 1 cọc trụ bê tông thể hiện cô Thúy đã đ ng ý nhượng lại phần diện tích đất có kích thước chiều ngang 2,2m, chiều dài 25, m cho vợ ch ng tôi, đợi khi nào các bên làm xong thủ tục tách một phần thửa đất chuyển nhượng cho nhau như giấy thỏa thuận viết tay th tôi mới xây dựng tường rào kiên cố. Còn phía giáp ranh với thửa đất của cô Thơ (thửa 1 ) th tôi dựng các cột trụ bê tông và xây dựng móng kiên cố sau khi đã tr phần diện tích có kích thước rộng 2,2m, chiều dài 25,5 m theo đúng như đã thỏa thuận giữa ba người chủ sử dụng ba thửa đất là tôi, bà Thúy và bà Thơ.

Sau đó tôi có đề nghị với bà Thúy là mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cô Thơ c ng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của tôi và của bà Thúy đưa lên Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường) làm thủ tục tách thửa chuyển nhượng cho nhau theo đúng hiện trạng diện tích các thửa đất mà ba gia đ nh đang sử dụng theo Văn bản thỏa thuận viết tay ngày 20/11/2017. Tuy nhiên, dù tôi đã nhắc nhở vợ ch ng bà Thúy vài lần nhưng bà Thúy vẫn chưa thực hiện. Bất ngờ bà Thúy chuyển nhượng lại căn nhà mới xây và toàn bộ thửa đất số , tờ bản đ số cho vợ ch ng ông B mà tôi không biết. Mãi lâu sau gặp vợ ch ng ông B thì ông B cho biết ông sẽ xây dựng tường rào trên phần đất như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông. Tôi đã gặp bà Thúy và bà cho biết lúc bà chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông B, bà đã chỉ r ranh giới trên thực địa của thửa đất số , tờ bản đ số cho ông B biết r i. Sau đó chúng tôi có hẹn gặp nhau tại nhà ông B để giải quyết, cuộc gặp của ba người là tôi, bà Thúy và vợ ch ng ông B nhưng khi gặp nhau cả ba bên lời qua tiếng lại nên không giải quyết được vấn đề g .

Đến tháng 8 năm 2 2 , vợ ch ng ông B tập kết vật liệu và tiến hành xây dựng hàng rào kiên cố giáp ranh với thửa đất của gia đ nh chúng tôi. Nhận thấy phần hàng rào xây dựng lấn chiếm qua phần diện tích đất của chúng tôi nên tôi đã báo với UBND phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thuột. UBND phường Tân Hòa đã cử cán bộ địa chính xuống kiểm tra hiện trạng đất và yêu cầu vợ ch ng ông B tạm d ng không được xây dựng hàng rào đợi chính quyền giải quyết tranh chấp. Ông B tạm d ng việc xây dựng kiên cố nhưng đã tự ý dựng hàng rào lưới B40 lấn chiếm sang phần đất của vợ ch ng tôi c ng như tr ng cây (chuối, keo...) trên diện tích đất lấn chiếm. Sau đó tôi có nhờ UBND phường giải quyết, bộ phận địa chính của phường Tân Hòa đã giới thiệu Công ty TNHH Đo đạc tư vấn Nông lâm nghiệp Đắk Lắk đo đạc lại các thửa đất theo bản đ địa chính và cắm mốc trên thực địa. Khi đơn vị đo đạc địa chính đo đạc lại theo hệ thống bản đ và cắm mốc trên thực địa th ông B lại không đ ng ý các mốc đó nên tôi đã viết đơn nhờ UBND phường Tân Hòa giải quyết nhưng không thành.

Do giữa các bên là vợ ch ng tôi, bà Thúy, ông B và bà Hạnh không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết nên vợ ch ng tôi đã nhận chuyển nhượng thửa đất 1 (có ngu n gốc của bà Thơ, liên quan đến thỏa thuận đ i đất ba bên) nằm ở phía Đông của thửa 3 đang có tranh chấp với vợ ch ng ông B, bà Hạnh. Và nay tôi không yêu cầu phải thực hiện thỏa thuận đ i đất ba bên đó nữa, tôi chỉ yêu cầu các bên có liên quan tôn trọng ranh giới đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp và yêu cầu ông B, bà Hạnh phải trả lại diện tích đât đã lấn chiếm của thửa 3 cho vợ ch ng tôi.

Nay nguyên đơn yêu cầu: Buộc Ông Phan Thanh B nh, bà Ngô Thị Bích Hạnh trả lại phần diện tích đất lấn chiếm bao g m:

- Phần diện tích đất lấn chiếm khoảng 28,5m2 ở phía sau của thửa đất số 3 , tờ bản đ số có tứ cận như sau: Phía Đông giáp thửa đất số 3 tờ bản đ số

của vợ ch ng chúng tôi; Phía Tây giáp thửa đất số , tờ bản đ số của ông Phan Thanh B; Phía Nam giáp đường Phạm Văn Đ ng; Phía Bắc giáp thửa đất số 148; không yêu cầu phải thực hiện theo thỏa thuận đ i đất với bà Thúy, bà Thơ.

- Phần diện tích đất lấn chiếm khoảng 10m2 ở phía trước của thửa đất số 3 tờ bản đ số (mặt tiền đường Phạm Văn Đ ng) có tứ cận: Phía Đông giáp thửa số 3 tờ bản đ số của vợ ch ng chúng tôi; Phía Tây giáp thửa đất số tờ bản đ số của ông Phan Thanh B; Phía Nam giáp đường Phạm Văn Đ ng; Phía Bắc giáp thửa đất số 3 tờ bản đ số của vợ ch ng chúng tôi.

Buộc ông B và bà Hạnh tháo gỡ hàng rào bằng lưới B dựng trái phép, phần mái tôn, vách tôn, ống thoát nước và nh hết các loại cây tr ng trái phép trên phần diện tích đất lấn chiếm của vợ ch ng tôi.

Tại phiên tòa sơ thẩm ông L, bà H có Đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện và tr nh bày: Nay ông L, bà H chỉ yêu cầu Tòa án buộc ông B, bà Hạnh phải tháo dỡ các tài sản trên đất và trả lại diện tích đất đã lấn chiếm theo kết quả đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk diện tích 28,5m2, có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa 1 8 dài 3,28m; Phía Nam giáp đường Phạm Văn Đ ng dài , 3m; Phía Đông giáp thửa 3 dài 2 ,33m; Phía Tây giáp thửa dài 25, m. Đối với các yêu cầu khác th xin rút. Ngoài ra không còn ý kiến, yêu cầu g khác.

- Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Thanh L và bà V Thị Thu H là ông Nguyễn Trung Sĩ tr nh bày:

Tôi đ ng ý với lời tr nh bày các yêu cầu khởi kiện, rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L và bà Võ Thị Thu H. Về kết quả việc xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá thì tôi đ ng ý với biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá. Ngoài ra không còn ý kiến, yêu cầu g khác.

- Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa bị đơn ông Phan Thanh B trình bày:

Ngu n gốc thửa đất số 44, tờ bản đ số 40, diện tích 327,8m², địa chỉ phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thuột (Nay là phường Tân Lập, tỉnh Đắk Lắk) là do vợ ch ng tôi nhận chuyển nhượng t bà Nguyễn Thị H ng Thúy t năm 2017. Đến ngày 21/5/2018 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 596201 mang tên ông Phan Thanh B và ngày 15/06/2018 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 596201 mang tên ông Phan Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh.

Khi nhận chuyển nhượng bà Thúy có đứng ra chỉ cho tôi biết ranh giới, hiện trạng lô đất nhận chuyển nhượng. Nhưng bởi vì phía sau nhiều cây cối rậm rạp nên bà Thúy và tôi chỉ đứng phía ngoài đường Phạm Văn Đ ng chỉ vào chứ không ra phía sau để chỉ rõ.

Tại thời điểm nhận chuyển nhượng trên đất có 01 căn nhà cấp 4, có tứ cận như sau: Phía Nam giáp đường Phạm Văn Đ ng; Phía Bắc giáp thửa 148 chiều dài 21,84m theo bìa, có hàng rào bằng gạch do chủ đất phía sau xây cao khoảng 3m, phía đằng sau đất nhiều cây cối rậm rạp nên tôi không biết việc có móng nhà của ông L xây qua phần đất của mình, c ng không biết ông L xây cọc trụ bê tông trên đất thửa 44; Phía Tây giáp mương nước bê tông của Nhà nước xây dựng, khi nhận chuyển nhượng đất đã có t trước đó; Phía Đông giáp thửa 36 của ông L, bà H không có hàng rào phân cách.

Khi nhận chuyển nhượng đất, bà Thúy không nói với tôi về việc giữa bà Thúy, ông L và bà H, bà Thơ có thỏa thuận về việc đ i đất như ông L trình bày. Tôi chỉ biết bà Thúy chuyển nhượng đất cho tôi như trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Sau khi nhận chuyển nhượng thì tôi và gia đ nh về đây ở luôn, không xây dựng mở rộng lại gì, chỉ sơn sửa lại trong nhà, c ng không xây rào bao đất.

Năm 2020 khi tôi tiến hành xây bao đất của mình thì ông L mới nói với tôi là giữa ông L và bà Thúy (chủ đất c ) có thỏa thuận về việc cắt 2m đất phía sau của thửa 44 cho ông L và ông L không đ ng ý để tôi xây hàng rào. Tôi và ông L cùng nhau dùng thước dây đo tay lấy mốc là cái mương nước ở phía Tây của thửa đất số 44 của vợ ch ng tôi kéo về phía đất của tôi và ông L để đo chiều dài phía Bắc thửa đất 44 của tôi. Tôi có nói là sẽ lùi lại 80cm so với 21,84m như bìa đỏ nhưng ông L vẫn không đ ng ý.

Ông L có thuê công ty đo đạc tiến hành đo đạc nhưng khi đo không có sự tham gia của tôi nên tôi không đ ng ý với kết quả đo đạc này.

Tôi đã tự đóng cọc sắt và kéo lưới B40 theo mốc giới đo tay tính điểm mốc t mương nước vì phần đất trống.Tôi đề nghị phải đo đạc lại diện tích đất của cả hai thửa 44, 36 để xác định ranh giới của hai thửa.

Nay ông L, bà H khởi kiện yêu cầu vợ ch ng tôi phải trả lại phần diện tích 28,5m² lấn chiếm thửa đất 36 của ông L, bà H và yêu cầu tháo dỡ hàng rào B40 cọc thép và toàn bộ cây cối trên đất thì tôi không đ ng ý. Vì đất của tôi còn thiếu so với bìa đỏ, tôi không lấn đất của ông L, bà H.

- Quá trình làm việc, bị đơn bà Ngô Thị Bích Hạnh trình bày: Tôi là vợ của ông Phan Thanh B thống nhất như lời trình bày của ông B.

- Quá trình làm việc, bà Nguyễn Thị H ng Thúy tr nh bày như sau:

Năm 2 1 , tôi có thực hiện chuyển nhượng thửa đất số 3 , tờ bản đ số , diện tích 212,9m2, đất tọa lạc tại phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk cho vợ ch ng ông Nguyễn Thanh L, bà V Thị Thu H. Ngày 21/12/2 1 , Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 1

3 mang tên ông Nguyễn Thanh L, bà V Thị Thu H. Trong quá tr nh thỏa thuận chuyển nhượng, tôi có nói với vợ ch ng ông L là thửa 1 sát cạnh thửa 3 là của bà Nguyễn Thị Thơ (em gái ruột tôi). Và tôi có thỏa thuận cho bà Thơ 2,2m phía sau của thửa 3 (cạnh phía Bắc) để đất của bà Thơ được vuông đẹp, và b lại cho ông L 2,2m cạnh phía Bắc của thửa (lúc đó c ng là đất của tôi). Thỏa thuận này có tôi và bà Thơ và vợ ch ng ông L lập Giấy thỏa thuận, bàn giao đất cho và đất chuyển nhượng ngày 2 /11/2 1 , Giấy này hiện nay do ông L đang giữ. Khi chuyển nhượng đất cho ông L th trên đất đã có nhà là căn nhà cấp khi tôi nhận chuyển nhượng đã có sẵn và gia đ nh tôi quản lý sử dụng cho đến khi chuyển nhượng cho ông L.

Khoảng năm 2 18 tôi chuyển nhượng thửa đất cho ông Phan Thanh B. Trên đất có sẵn nhà tôi đã xây và ở được một thời gian th chuyển nhượng đất cho ông B. Khi chuyển nhượng tôi có nói với ông B về việc cạnh phía Bắc của thửa đã cắt bớt 2,2m để b đắp cho ông L theo như thỏa thuận với bà Thơ như tôi đã nói ở trên. Sự việc này có ghi nhận trong Giấy đặt cọc với ông B nhưng hiện nay tôi không giữ giấy tờ g .

Nay ông L khởi kiện ông B yêu cầu vợ ch ng ông B, tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 102/2025/DS-ST ngày 16/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk đã quyết định: Căn cứ khoản 9 Điều 2 , điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 1 , Điều 15 , Điều 1 5, Điều 22 , Điều 22 , Điều 228, Điều 2 , Điều 2 1, Điều 2 3 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 1 , Điều 1 , Điều 1 5, Điều 1 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 1 , Điều 1 8, Điều 1 , Điều 2 3 Luật đất đai sửa đ i, b sung năm 2 18;

Căn cứ Điều 2 Nghị quyết số 32 /2 1 /UBTVQH1 ngày 3 /12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L, bà V Thị Thu H.

Buộc ông Phan Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh phải tháo dỡ các tài sản trên đất g m: móng đá hộc cao 3m, cọc bê tông cao ,5m; 1 cọc sắt tròn đường kính 1 mm, cao m; một phần tường xây gạch cao khoảng m; hàng rào lưới B , cao 1, m, dài 25m có 9 cọc sắt chữ v cao khoảng 1,5m; 1 cây i; 1 cây mắc mật; 1 cây vú sữa; 2 bụi cây chuối; cây keo; 1 cây h ng xiêm. Và trả lại diện tích đất lấn chiếm là 28,5m2, có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa 1 8 dài 3,28m; Phía Nam giáp đường Phạm Văn Đ ng dài , 3m; Phía Đông giáp thửa 3 dài 2 ,33m; Phía Tây giáp thửa dài 25, m; thuộc thửa đất số 3 , tờ bản đ số , đất ở phường Tân Lập, tỉnh Đắk Lắk (địa chỉ c : phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk)

Đ nh chỉ yêu cầu khởi kiện b sung của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L, bà V Thị Thu H về việc buộc bị đơn ông Phan Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh phải tháo dỡ phần mái tôn c ng ống nước thải đặt ở trên mái tôn và các biển hiệu đặt trên phần diện tích đất lấn chiếm, trả lại diện tích đất lấn chiếm khoảng 10m2, có tứ cận: Phía Đông giáp thửa số 3 tờ bản đ số của vợ ch ng chúng tôi; Phía Tây giáp thửa đất số tờ bản đ số của ông Phan Thanh B; Phía Nam giáp đường Phạm Văn Đ ng; Phía Bắc giáp thửa đất số 3 tờ bản đ số

(Kèm theo Bản vẽ chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính số 10-2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk).

Ngoài ra còn tuyên về chi phí khai thác sử dụng tài liệu đất đai, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí đo vẽ kỹ thuật thửa đất tranh chấp, chi phí định giá, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 30/9/2025, bị đơn ông Phan Thanh B kháng bản án dân sự sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bỏ một phần nội dung của bản án tuyên ông Phan Thanh B và bà Ngô Thị Bích Hạnh chủ sở hữu thửa đất số phải cắt 2, 5m theo chiều dài cạnh phía bắc (tương đương 28,5 m 2), chiều dài 2 , 5m đất ở thửa số 44 cho ông L, bà H ( thửa đất số 3 bên cạnh). Tuyên ông B và bà Hạnh được giữ nguyên kích thước đất cạnh phía bắc của thửa đất số là 21,8 m theo đúng kích thước đã ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM59 2 1 của Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đắk Lắk.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

-Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khưởi kiện;

-Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo;

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đ ng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; về nội dung đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 3 8 của Bộ luật dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại h sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, Kiểm sát viên, Hội đ ng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm là kháng cáo hợp lệ, được chấp nhận xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Phan Thanh B, Hội đ ng xét xử thấy rằng: Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh Lạt và bà V Thị Thu H là chủ sử dụng đất thửa đất số 3 , tờ bản đ số , diện tích 212,9m2, tọa lạc tại phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phường Tân Lập, tỉnh Đắk Lắk) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 1

3 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 21/12/2 1 mang tên ông Nguyễn Thanh L, bà V Thị Thu H. Đất có ngu n gốc ông L, bà H nhận chuyển nhượng t bà Nguyễn Thị H ng Thúy theo hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 2 /11/2 1 .

Ông Nguyễn Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh cho rằng diện tích đất ông B, bà Hạnh đang quản lý, sử dụng thực tế hiện nay bị thiếu so với diện tích được ghi nhận trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 21/12/2 1 cho ông Nguyễn Thanh L, bà V Thị Thu H, thửa đất số 3 (BL 5, ) và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp 15/ /2 18 cho ông Phan Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh, thửa đất số (BL 03,04) và đối chiếu với bản vẽ hiện trạng sử dụng đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk tiến hành đo vẽ vào ngày 1 /1 /2 2 (BL 119 đến BL 123) thì ông B, bà Hạnh thực tế sử dụng đất th a so với đất được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông L, bà Hạnh thực tế sử dụng đất bị thiếu so với đất được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo kết quả đo đạc của văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk (BL 118 đến BL 122) xác định: Ranh giới hiện trạng sử dụng của của thửa đã lấn qua thửa 3 diện tích 28,5m2 các cạnh như sau: Phía Bắc giáp thửa 1 8 dài 3,28m; Phía Nam giáp đường Phạm Văn Đ ng dài , 3m; Phía Đông giáp thửa 3 dài 2 ,33m; Phía Tây giáp thửa dài 25, m.

Như vậy, Toà cấp sơ thẩm căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất; căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 3 và thửa và căn cứ vào kết quả đo đạc thực tế để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L, bà V Thị Thu H là có cơ sở.

Tại cấp phúc thẩm bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu chứng cứ mới để Hội đ ng xét xử xem xét. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Bị đơn kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 3 8 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phan Thanh B và bà Ngô Thị Bích Hạnh;

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 102/2025/DS-ST ngày 16/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Đắk Lắk.

Căn cứ khoản 9 Điều 2 , Điều 35, Điều 39, Điều 1 , Điều 15 , Điều 1 5, Điều 22 , Điều 22 , Điều 228, Điều 2 , Điều 2 1, Điều 2 3 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 1 , Điều 1 , Điều 1 5, Điều 1 Bộ luật dân sự; Điều 1 , Điều 1 8, Điều 1 , Điều 2 3 Luật đất đai sửa đ i, b sung năm 2 18; Điều 2 , Điều 29 Nghị quyết số 32 ngày 3 tháng 12 năm 2 1 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L, bà Võ Thị Thu H.

Buộc ông Phan Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh phải tự nguyện tháo dỡ, di dời các tài sản trên đất g m: móng đá hộc cao 3m, cọc bê tông cao ,5m; 1 cọc sắt tròn đường kính 1 mm, cao m; một phần tường xây gạch cao khoảng m; hàng rào lưới B , cao 1, m, dài 25m có 9 cọc sắt chữ v cao khoảng 1,5m; 1 cây i; 1 cây mắc mật; 1 cây vú sữa; 2 bụi cây chuối; cây keo; 1 cây h ng xiêm. Và trả lại diện tích đất lấn chiếm là 28,5m2, có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa 1 8 dài 3,28m; Phía Nam giáp đường Phạm Văn Đ ng dài , 3m; Phía Đông giáp thửa 3 dài 2 ,33m; Phía Tây giáp thửa dài 25, m; thuộc thửa đất số 3 , tờ bản đ số , đất ở phường Tân Lập, tỉnh Đắk Lắk (địa chỉ c : phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk).

Ông Phan Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh không thực hiện trong thời hạn tự nguyện thi hành án th giải quyết theo Luật thi hành án dân sự.

Đ nh chỉ yêu cầu khởi kiện b sung của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L, bà V Thị Thu H về việc buộc bị đơn ông Phan Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh phải tháo dỡ phần mái tôn c ng ống nước thải đặt ở trên mái tôn và các biển hiệu đặt trên phần diện tích đất lấn chiếm, trả lại diện tích đất lấn chiếm khoảng 1 m2, có tứ cận: Phía Đông giáp thửa số 3 tờ bản đ số của vợ ch ng chúng tôi; Phía Tây giáp thửa đất số tờ bản đ số của ông Phan Thanh B; Phía Nam giáp đường Phạm Văn Đ ng; Phía Bắc giáp thửa đất số 3 tờ bản đ số .

(Kèm theo bản án sơ thẩm: Bản vẽ chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính số 10-2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk).

Về chi phí khai thác sử dụng tài liệu đất đai, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí đo vẽ kỹ thuật thửa đất tranh chấp, chi phí định giá:

Ông Phan Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh phải chịu chi phí khai thác sử dụng tài liệu đất đai là 85 . đ ng, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1. . đ ng, chi phí định giá là 3.5 . đ ng, chi phí đo vẽ kỹ thuật thửa đất là .512. đ ng.

Ông Nguyễn Thanh L, bà V Thị Thu H được nhận lại các khoản tiền tạm ứng chi phí khai thác sử dụng tài liệu đất đai là 850. đ ng, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1. . đ ng, chi phí định giá là 3.5 . đ ng, chi phí đo vẽ kỹ thuật thửa đất là .512. đ ng sau khi thu được của ông Phan Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thanh L, bà V Thị Thu H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 1.55 . đ ng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2 23/

3 8 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột ngày 15/11/2 23 và số tiền tạm ứng án phí 5 . đ ng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số

11 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột ngày 31/3/2 25.

Bị đơn ông Phan Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là . 9 . đ ng.

Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bị đơn ông Phan Thanh B phải chịu 3 . đ ng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, đã nộp tại biên lai thu tiền số

21 1 ngày 13/1 /2 25 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các phần khác của nội dung bản án không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án./.

Cỡ chữ