vanban.org

Bản án 90/2026/DS-PT — Tranh chấp đất đai

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 06/02/2026 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/02/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ăn cứ khoản 1 Điều 308 B lu t tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nh n kháng cáo của bị đơn ông Phan Thanh B và bà Ngô Thị Bích Hạnh; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 102/2025/DS-ST ngày 16/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Đắk Lắk. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "đòi lại đất do bị lấn chiếm"
  • Tòa quyết gì? ăn cứ khoản 1 Điều 308 B lu t tố tụng dân sự năm 2015;
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2026/DS-PT
Ngày: 06 - 02-2026
“V/v Đòi lại đất bị lấn chiếm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Quang;

Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Tuyết và bà Lưu Thị Thu Hường;

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Tân – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 614/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 12 năm 2025 về “ Đòi lại đất bị lấn chiếm ”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 102/2025/DSST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2026/QĐXXPT-DS ngày 15 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: ng Nguyễn Thanh Lạt, sinh năm 1965 và bà V Thị Thu H, sinh năm 1972; có mặt.

ng địa chỉ: ố 558/ Nguyễn Văn , t dân phố 8, phường Tân L p, tỉnh Đắk Lắk Địa chỉ c : ố 558/ Nguyễn Văn , t dân phố 8, phường Tân L p, thành phố Buôn Ma Thu t, tỉnh Đắk Lắk .

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Thanh L và bà Võ Thị Thu H: Ông Nguyễn Trung ĩ, sinh năm 1983 – Lu t sư ông ty Lu t TNHH MTV Nguyễn Trung và ng sự - Đoàn Lu t sư tỉnh Đắk Lắk; Địa chỉ: ố 10/1/ Nguyễn Đình hiểu nối dài, phường Buôn Ma Thu t, tỉnh Đắk Lắk Địa chỉ c : ố 10/1/ Nguyễn Đình hiểu nối dài, phường Tân Lợi, thành phố Buôn Ma Thu t, tỉnh Đắk Lắk; ông ĩ có mặt.

2/ B đơn: ng han Thanh Bình, sinh năm 1970 và bà Ngô Thị Bích Hạnh, sinh năm: 1983; có mặt.

ng địa chỉ: ố 05 hạm Văn Đ ng, phường Tân L p, tỉnh Đắk Lắk Địa chỉ c : ố 05 hạm Văn Đ ng, phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thu t, tỉnh Đắk Lắk .

3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H ng Thúy, sinh năm 1972; Địa chỉ: ố /15 đường Ngô hí Quốc, phường Tân L p, tỉnh Đắk Lắk Địa chỉ c : ố /15 đường Ngô hí Quốc, phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thu t, tỉnh Đắk Lắk ; vắng mặt.

4/ Người kháng cáo: Bị đơn ông Phan Thanh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình giải quyết và tài phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L và bà V Thị Thu H trình bày:

Năm 201 vợ ch ng tôi có nh n chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bà Nguyễn Thị H ng Thúy. Diện tích đất nh n chuyển nhượng là 212,9m2 trên diện tích đất có căn nhà cấp diện tích xây dựng 60m2) thu c thửa đất số 3 , tờ bản đ số 0 tọa lạc tại phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thu t, tỉnh Đắk Lắk nay là phường Tân L p, tỉnh Đắk Lắk . Việc nh n chuyển nhượng được hai bên l p văn bản có chứng nh n của Phòng công chứng số 2 tỉnh Đắk Lắk và đã hoàn thành thủ tục thủ chuyển quyền sang tên vợ ch ng tôi theo Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất M 1

3 do ở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 21/12/201 . Đất có vị trí tứ c n như sau: hía Bắc giáp thửa đất số 21 và thửa đất số 1 8; hía Nam giáp đường hạm Văn Đ ng; hía Đông giáp thửa đất số 1 ; hía Tây giáp thửa đất số .

au khi thực hiện các thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ ch ng tôi và bà Nguyễn Thị H ng Thúy đã xong thì bà Thúy có đề nghị tôi cắt 01 phần diện tích đất có kích thước hình tam giác chiều ngang 2,2m phía sau thửa đất số 3 , tờ bản đ số 0 giáp ranh thửa đất số 21 , chiều dài 25,55m của vợ ch ng tôi chuyển nhượng cho em ru t của bà Thúy là bà Nguyễn Thị Thơ để bà Thơ nh p vào thửa đất số 1 , tờ bản đ số 0 làm cho thửa đất của bà Thơ có hình thể thửa đất được đẹp hơn, kích thước chiều ngang phía sau 7,50m, giáp ranh thửa đất số 21, chiều ngang phía trước thửa đất 7,36m. òn bà Thúy sẽ cắt m t phần diện tích đất có kích thước chiều ngang 2,2m ở phía sau thửa đất số , tờ bản đ số 0 giáp ranh thửa đất số 1 8 , chiều dài 25,0 m của bà Thúy chuyển nhượng cho vợ ch ng tôi để vợ ch ng tôi nh p vào thửa đất số 3 , tờ bản đ số 0. au khi tách nh p xong thì chiều ngang phía sau thửa đất của bà Thơ tăng thêm 2,2m, phía sau thửa đất của bà Thúy giảm 2,2m còn chiều ngang phía sau thửa đất của tôi vẫn không thay đ i tức là diện tích thửa đất của vợ ch ng tôi không thay đ i . Nghĩ về tình hàng xóm láng giềng và diện tích thửa đất của vợ ch ng tôi sau khi tách nh p m t phần diện tích đất vẫn đúng theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất nên tôi đã đ ng ý. Ba người đã ký thỏa thu n bằng giấy viết tay ngày 20/11/201 . au đó tôi tiến hành xây dựng móng kiên cố ở phía sau thửa đất mà vợ ch ng tôi nh n chuyển nhượng của cô Thúy và có xây dựng thêm qua thửa đất của cô Thúy với kích thước chiều r ng 2,2m theo chỉ dẫn của cô Thúy, chiều dài thửa đất giáp ranh với cô Thúy thì tôi làm khung kèo sắt, lợp lại mái nhà c giáp ranh với nhà của cô Thúy và phần giáp ranh đất trống không có nhà tôi chỉ cắm 01 cọc trụ bê tông thể hiện cô Thúy đã đ ng ý nhượng lại phần diện tích đất có kích thước chiều ngang 2,2m, chiều dài 25,0 m cho vợ ch ng tôi, đợi khi nào các bên làm xong thủ tục tách m t phần thửa đất chuyển nhượng cho nhau như giấy thỏa thu n viết tay thì tôi mới xây dựng tường rào kiên cố. òn phía giáp ranh với thửa đất của cô Thơ thửa 1 thì tôi dựng các c t trụ bê tông và xây dựng móng kiên cố sau khi đã tr phần diện tích có kích thước r ng 2,2m, chiều dài 25,5 m theo đúng như đã thỏa thu n giữa ba người chủ sử dụng ba thửa đất là tôi, bà Thúy và bà Thơ.

au đó tôi có đề nghị với bà Thúy là mượn giấy chứng nh n quyền sử dụng đất của cô Thơ c ng với giấy chứng nh n quyền sử dụng đất của tôi và của bà Thúy đưa lên ở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk nay là ở Nông nghiệp và Môi trường làm thủ tục tách thửa chuyển nhượng cho nhau theo đúng hiện trạng diện tích các thửa đất mà ba gia đình đang sử dụng theo Văn bản thỏa thu n viết tay ngày 20/11/2017. Tuy nhiên, dù tôi đã nhắc nhở vợ ch ng bà Thúy vài lần nhưng bà Thúy vẫn chưa thực hiện. Bất ngờ bà Thúy chuyển nhượng lại căn nhà mới xây và toàn b thửa đất số , tờ bản đ số 0 cho vợ ch ng ông B mà tôi không biết. Mãi lâu sau gặp vợ ch ng ông B thì ông B cho biết ông sẽ xây dựng tường rào trên phần đất như giấy chứng nh n quyền sử dụng đất của ông. Tôi đã gặp bà Thúy và bà cho biết lúc bà chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông B, bà đã chỉ r ranh giới trên thực địa của thửa đất số , tờ bản đ số 0 cho ông B biết r i. au đó chúng tôi có hẹn gặp nhau tại nhà ông B để giải quyết, cu c gặp của ba người là tôi, bà Thúy và vợ ch ng ông B nhưng khi gặp nhau cả ba bên lời qua tiếng lại nên không giải quyết được vấn đề gì.

Đến tháng 8 năm 2020, vợ ch ng ông B t p kết v t liệu và tiến hành xây dựng hàng rào kiên cố giáp ranh với thửa đất của gia đình chúng tôi. Nh n thấy phần hàng rào xây dựng lấn chiếm qua phần diện tích đất của chúng tôi nên tôi đã báo với UBND phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thu t. UBND phường Tân Hòa đã cử cán b địa chính xuống kiểm tra hiện trạng đất và yêu cầu vợ ch ng ông B tạm d ng không được xây dựng hàng rào đợi chính quyền giải quyết tranh chấp. ng B tạm d ng việc xây dựng kiên cố nhưng đã tự ý dựng hàng rào lưới B40 lấn chiếm sang phần đất của vợ ch ng tôi c ng như tr ng cây chuối, keo...) trên diện tích đất lấn chiếm. au đó tôi có nhờ UBND phường giải quyết, b ph n địa chính của phường Tân Hòa đã giới thiệu ông ty TNHH Đo đạc tư vấn Nông lâm nghiệp Đắk Lắk đo đạc lại các thửa đất theo bản đ địa chính và cắm mốc trên thực địa. Khi đơn vị đo đạc địa chính đo đạc lại theo hệ thống bản đ và cắm mốc trên thực địa thì ông B lại không đ ng ý các mốc đó nên tôi đã viết đơn nhờ UBND phường Tân Hòa giải quyết nhưng không thành.

Do giữa các bên là vợ ch ng tôi, bà Thúy, ông B và bà Hạnh không thỏa thu n được với nhau về việc giải quyết nên vợ ch ng tôi đã nh n chuyển nhượng thửa đất 1 có ngu n gốc của bà Thơ, liên quan đến thỏa thu n đ i đất ba bên nằm ở phía Đông của thửa 3 đang có tranh chấp với vợ ch ng ông B, bà Hạnh. Và nay tôi không yêu cầu phải thực hiện thỏa thu n đ i đất ba bên đó nữa, tôi chỉ yêu cầu các bên có liên quan tôn trọng ranh giới đất theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất đã cấp và yêu cầu ông B, bà Hạnh phải trả lại diện tích đât đã lấn chiếm của thửa 3 cho vợ ch ng tôi.

Nay nguyên đơn yêu cầu: Bu c ng han Thanh Bình, bà Ngô Thị Bích Hạnh trả lại phần diện tích đất lấn chiếm bao g m:

- hần diện tích đất lấn chiếm khoảng 28,5m2 ở phía sau của thửa đất số 3 , tờ bản đ số 0 có tứ c n như sau: hía Đông giáp thửa đất số 3 tờ bản đ số 0 của vợ ch ng chúng tôi; hía Tây giáp thửa đất số , tờ bản đ số 0 của ông Phan Thanh B; hía Nam giáp đường hạm Văn Đ ng; hía Bắc giáp thửa đất số 148; không yêu cầu phải thực hiện theo thỏa thu n đ i đất với bà Thúy, bà Thơ.

- hần diện tích đất lấn chiếm khoảng 10m2 ở phía trước của thửa đất số 3 tờ bản đ số 0 mặt tiền đường hạm Văn Đ ng có tứ c n: hía Đông giáp thửa số 3 tờ bản đ số 0 của vợ ch ng chúng tôi; hía Tây giáp thửa đất số tờ bản đ số 0 của ông han Thanh B; hía Nam giáp đường hạm Văn Đ ng; Phía Bắc giáp thửa đất số 3 tờ bản đ số 0 của vợ ch ng chúng tôi.

Bu c ông B và bà Hạnh tháo gỡ hàng rào bằng lưới B 0 dựng trái phép, phần mái tôn, vách tôn, ống thoát nước và nh hết các loại cây tr ng trái phép trên phần diện tích đất lấn chiếm của vợ ch ng tôi.

Tại phiên tòa sơ thẩm ông L, bà H có Đơn xin rút m t phần yêu cầu khởi kiện và trình bày: Nay ông L, bà H chỉ yêu cầu Tòa án bu c ông B, bà Hạnh phải tháo dỡ các tài sản trên đất và trả lại diện tích đất đã lấn chiếm theo kết quả đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk diện tích 28,5m2, có tứ c n: hía Bắc giáp thửa 1 8 dài 3,28m; hía Nam giáp đường hạm Văn Đ ng dài 0, 3m; hía Đông giáp thửa 3 dài 2 ,33m; hía Tây giáp thửa dài 25,0 m. Đối với các yêu cầu khác thì xin rút. Ngoài ra không còn ý kiến, yêu cầu gì khác.

- Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Thanh L và bà V Thị Thu H là ông Nguyễn Trung ĩ trình bày:

Tôi đ ng ý với lời trình bày các yêu cầu khởi kiện, rút m t phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L và bà Võ Thị Thu H. Về kết quả việc xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá thì tôi đ ng ý với biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá. Ngoài ra không còn ý kiến, yêu cầu gì khác.

- Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa bị đơn ông Phan Thanh B trình bày:

Ngu n gốc thửa đất số 44, tờ bản đ số 40, diện tích 327,8m², địa chỉ phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thu t (Nay là phường Tân L p, tỉnh Đắk Lắk) là do vợ ch ng tôi nh n chuyển nhượng t bà Nguyễn Thị H ng Thúy t năm 2017. Đến ngày 21/5/2018 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 596201 mang tên ông Phan Thanh B và ngày 15/06/2018 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 596201 mang tên ông Phan Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh.

Khi nh n chuyển nhượng bà Thúy có đứng ra chỉ cho tôi biết ranh giới, hiện trạng lô đất nh n chuyển nhượng. Nhưng bởi vì phía sau nhiều cây cối r m rạp nên bà Thúy và tôi chỉ đứng phía ngoài đường Phạm Văn Đ ng chỉ vào chứ không ra phía sau để chỉ rõ.

Tại thời điểm nh n chuyển nhượng trên đất có 01 căn nhà cấp 4, có tứ c n như sau: Phía Nam giáp đường Phạm Văn Đ ng; Phía Bắc giáp thửa 148 chiều dài 21,84m theo bìa, có hàng rào bằng gạch do chủ đất phía sau xây cao khoảng 3m, phía đằng sau đất nhiều cây cối r m rạp nên tôi không biết việc có móng nhà của ông L xây qua phần đất của mình, c ng không biết ông L xây cọc trụ bê tông trên đất thửa 44; Phía Tây giáp mương nước bê tông của Nhà nước xây dựng, khi nh n chuyển nhượng đất đã có t trước đó; Phía Đông giáp thửa 36 của ông L, bà H không có hàng rào phân cách.

Khi nh n chuyển nhượng đất, bà Thúy không nói với tôi về việc giữa bà Thúy, ông L và bà H, bà Thơ có thỏa thu n về việc đ i đất như ông L trình bày. Tôi chỉ biết bà Thúy chuyển nhượng đất cho tôi như trong Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất.

Sau khi nh n chuyển nhượng thì tôi và gia đình về đây ở luôn, không xây dựng mở r ng lại gì, chỉ sơn sửa lại trong nhà, c ng không xây rào bao đất.

Năm 2020 khi tôi tiến hành xây bao đất của mình thì ông L mới nói với tôi là giữa ông L và bà Thúy (chủ đất c ) có thỏa thu n về việc cắt 2m đất phía sau của thửa 44 cho ông L và ông L không đ ng ý để tôi xây hàng rào. Tôi và ông L cùng nhau dùng thước dây đo tay lấy mốc là cái mương nước ở phía Tây của thửa đất số 44 của vợ ch ng tôi kéo về phía đất của tôi và ông L để đo chiều dài phía Bắc thửa đất 44 của tôi. Tôi có nói là sẽ lùi lại 80cm so với 21,84m như bìa đỏ nhưng ông L vẫn không đ ng ý.

Ông L có thuê công ty đo đạc tiến hành đo đạc nhưng khi đo không có sự tham gia của tôi nên tôi không đ ng ý với kết quả đo đạc này.

Tôi đã tự đóng cọc sắt và kéo lưới B40 theo mốc giới đo tay tính điểm mốc t mương nước vì phần đất trống.Tôi đề nghị phải đo đạc lại diện tích đất của cả hai thửa 44, 36 để xác định ranh giới của hai thửa.

Nay ông L, bà H khởi kiện yêu cầu vợ ch ng tôi phải trả lại phần diện tích 28,5m² lấn chiếm thửa đất 36 của ông L, bà H và yêu cầu tháo dỡ hàng rào B40 cọc thép và toàn b cây cối trên đất thì tôi không đ ng ý. Vì đất của tôi còn thiếu so với bìa đỏ, tôi không lấn đất của ông L, bà H.

- Quá trình làm việc, bị đơn bà Ngô Thị Bích Hạnh trình bày: Tôi là vợ của ông Phan Thanh B thống nhất như lời trình bày của ông B.

- Quá trình làm việc, bà Nguyễn Thị H ng Thúy trình bày như sau:

Năm 201 , tôi có thực hiện chuyển nhượng thửa đất số 3 , tờ bản đ số 0, diện tích 212,9m2, đất tọa lạc tại phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thu t, tỉnh Đắk Lắk cho vợ ch ng ông Nguyễn Thanh L, bà V Thị Thu H. Ngày 21/12/201 , ở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số M 1

3 mang tên ông Nguyễn Thanh L, bà V Thị Thu H. Trong quá trình thỏa thu n chuyển nhượng, tôi có nói với vợ ch ng ông L là thửa 1 sát cạnh thửa 3 là của bà Nguyễn Thị Thơ em gái ru t tôi . Và tôi có thỏa thu n cho bà Thơ 2,2m phía sau của thửa 3 cạnh phía Bắc để đất của bà Thơ được vuông đẹp, và b lại cho ông L 2,2m cạnh phía Bắc của thửa

lúc đó c ng là đất của tôi . Thỏa thu n này có tôi và bà Thơ và vợ ch ng ông L l p Giấy thỏa thu n, bàn giao đất cho và đất chuyển nhượng ngày 20/11/201 , Giấy này hiện nay do ông L đang giữ. Khi chuyển nhượng đất cho ông L thì trên đất đã có nhà là căn nhà cấp khi tôi nh n chuyển nhượng đã có sẵn và gia đình tôi quản lý sử dụng cho đến khi chuyển nhượng cho ông L.

Khoảng năm 2018 tôi chuyển nhượng thửa đất cho ông han Thanh B. Trên đất có sẵn nhà tôi đã xây và ở được m t thời gian thì chuyển nhượng đất cho ông B. Khi chuyển nhượng tôi có nói với ông B về việc cạnh phía Bắc của thửa đã cắt bớt 2,2m để b đắp cho ông L theo như thỏa thu n với bà Thơ như tôi đã nói ở trên. ự việc này có ghi nh n trong Giấy đặt cọc với ông B nhưng hiện nay tôi không giữ giấy tờ gì.

Nay ông L khởi kiện ông B yêu cầu vợ ch ng ông B, tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp lu t.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 102/2025/DS-ST ngày 16/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk đã quyết đ nh: ăn cứ khoản 9 Điều 2 , điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 1 , Điều 15 , Điều 1 5, Điều 220, Điều 22 , Điều 228, Điều 2 , Điều 2 1, Điều 2 3 B lu t tố tụng Dân sự;

ăn cứ Điều 1 , Điều 1 , Điều 1 5, Điều 1 B lu t dân sự;

ăn cứ Điều 1 , Điều 1 8, Điều 1 0, Điều 203 Lu t đất đai sửa đ i, b sung năm 2018;

ăn cứ Điều 2 Nghị quyết số 32 /201 /UBTVQH1 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc h i quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử: hấp nh n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L, bà V Thị Thu H.

Bu c ông Phan Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh phải tháo dỡ các tài sản trên đất g m: móng đá h c cao 3m, cọc bê tông cao ,5m; 01 cọc sắt tròn đường kính 100mm, cao m; m t phần tường xây gạch cao khoảng m; hàng rào lưới B 0, cao 1, m, dài 25m có 09 cọc sắt chữ v cao khoảng 1,5m; 01 cây i; 01 cây mắc m t; 01 cây vú sữa; 02 bụi cây chuối; 0 cây keo; 01 cây h ng xiêm. Và trả lại diện tích đất lấn chiếm là 28,5m2, có tứ c n: hía Bắc giáp thửa 1 8 dài 3,28m; hía Nam giáp đường hạm Văn Đ ng dài 0, 3m; hía Đông giáp thửa 3 dài 2 ,33m; hía Tây giáp thửa dài 25,0 m; thu c thửa đất số 3 , tờ bản đ số 0, đất ở phường Tân L p, tỉnh Đắk Lắk địa chỉ c : phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thu t, tỉnh Đắk Lắk

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện b sung của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L, bà V Thị Thu H về việc bu c bị đơn ông Phan Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh phải tháo dỡ phần mái tôn c ng ống nước thải đặt ở trên mái tôn và các biển hiệu đặt trên phần diện tích đất lấn chiếm, trả lại diện tích đất lấn chiếm khoảng 10m2, có tứ c n: hía Đông giáp thửa số 3 tờ bản đ số 0 của vợ ch ng chúng tôi; hía Tây giáp thửa đất số tờ bản đ số 0 của ông han Thanh B; Phía Nam giáp đường hạm Văn Đ ng; hía Bắc giáp thửa đất số 3 tờ bản đ số 0 (Kèm theo Bản vẽ chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính số 10-2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk).

Ngoài ra còn tuyên về chi phí khai thác sử dụng tài liệu đất đai, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí đo vẽ kỹ thu t thửa đất tranh chấp, chi phí định giá, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 30/9/2025, bị đơn ông Phan Thanh B kháng bản án dân sự sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bỏ m t phần n i dung của bản án tuyên ông han Thanh B và bà Ngô Thị Bích Hạnh chủ sở hữu thửa đất số phải cắt 2, 5m theo chiều dài cạnh phía bắc tương đương 28,5 m 2 , chiều dài 2 ,05m đất ở thửa số 44 cho ông L, bà H thửa đất số 3 bên cạnh . Tuyên ông B và bà Hạnh được giữ nguyên kích thước đất cạnh phía bắc của thửa đất số là 21,8 m theo đúng kích thước đã ghi trên giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số M59 201 của ở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đắk Lắk.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

-Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khưởi kiện;

-Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo;

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp lu t của Thẩm phán, H i đ ng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng các quy định của B lu t tố tụng dân sự; về n i dung đề nghị H i đ ng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của B lu t dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

au khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại h sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, Kiểm sát viên, H i đ ng xét xử nh n định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn kháng cáo trong thời hạn lu t định, đã n p tạm ứng án phí phúc thẩm là kháng cáo hợp lệ, được chấp nh n xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Xét n i dung kháng cáo của bị đơn ông Phan Thanh B, H i đ ng xét xử thấy rằng: Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh Lạt và bà V Thị Thu H là chủ sử dụng đất thửa đất số 3 , tờ bản đ số 0, diện tích 212,9m2, tọa lạc tại phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thu t, tỉnh Đắk Lắk Nay là phường Tân Lập, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số M 1

3 do ở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 21/12/201 mang tên ông Nguyễn Thanh L, bà V Thị Thu H. Đất có ngu n gốc ông L, bà H nh n chuyển nhượng t bà Nguyễn Thị H ng Thúy theo hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/11/201 .

ng Nguyễn Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh cho rằng diện tích đất ông B, bà Hạnh đang quản lý, sử dụng thực tế hiện nay bị thiếu so với diện tích được ghi nh n trong Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, căn cứ vào Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất do ở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 21/12/201 cho ông Nguyễn Thanh L, bà V Thị Thu H, thửa đất số 3 BL 05, 0 và Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất do ở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp 15/ /2018 cho ông han Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh, thửa đất số (BL 03,04) và đối chiếu với bản vẽ hiện trạng sử dụng đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk tiến hành đo vẽ vào ngày 1 /10/202 BL 119 đến BL 123 thì ông B, bà Hạnh thực tế sử dụng đất th a so với đất được cấp theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất và ông L, bà Hạnh thực tế sử dụng đất bị thiếu so với đất được cấp theo Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất.

Theo kết quả đo đạc của văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk (BL 118 đến BL 122 xác định: Ranh giới hiện trạng sử dụng của của thửa đã lấn qua thửa 3 diện tích 28,5m2 các cạnh như sau: hía Bắc giáp thửa 1 8 dài 3,28m; hía Nam giáp đường hạm Văn Đ ng dài 0, 3m; hía Đông giáp thửa 3 dài 2 ,33m; hía Tây giáp thửa dài 25,0 m.

Như v y, Toà cấp sơ thẩm căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất; căn cứ vào Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 3 và thửa và căn cứ vào kết quả đo đạc thực tế để chấp nh n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L, bà V Thị Thu H là có cơ sở.

Tại cấp phúc thẩm bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu chứng cứ mới để H i đ ng xét xử xem xét. Do đó, không có căn cứ để chấp nh n yêu cầu kháng cáo của bị đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Bị đơn kháng cáo không được chấp nh n nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp lu t.

QUYẾT ĐỊNH:

ăn cứ khoản 1 Điều 308 B lu t tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nh n kháng cáo của bị đơn ông Phan Thanh B và bà Ngô Thị Bích Hạnh;

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 102/2025/DS-ST ngày 16/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Đắk Lắk.

ăn cứ khoản 9 Điều 2 , Điều 35, Điều 39, Điều 1 , Điều 15 , Điều 1 5, Điều 220, Điều 22 , Điều 228, Điều 2 , Điều 2 1, Điều 2 3 B lu t tố tụng dân sự; Điều 1 , Điều 1 , Điều 1 5, Điều 1 B lu t dân sự; Điều 1 , Điều 1 8, Điều 1 0, Điều 203 Lu t đất đai sửa đ i, b sung năm 2018; Điều 2 , Điều 29 Nghị quyết số 32 ngày 30 tháng 12 năm 201 của Ủy ban thường vụ Quốc h i quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

hấp nh n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L, bà Võ Thị Thu H.

Bu c ông han Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh phải tự nguyện tháo dỡ, di dời các tài sản trên đất g m: móng đá h c cao 3m, cọc bê tông cao ,5m; 01 cọc sắt tròn đường kính 100mm, cao m; m t phần tường xây gạch cao khoảng m; hàng rào lưới B 0, cao 1, m, dài 25m có 09 cọc sắt chữ v cao khoảng 1,5m; 01 cây i; 01 cây mắc m t; 01 cây vú sữa; 02 bụi cây chuối; 0 cây keo; 01 cây h ng xiêm. Và trả lại diện tích đất lấn chiếm là 28,5m2, có tứ c n: hía Bắc giáp thửa 1 8 dài 3,28m; hía Nam giáp đường hạm Văn Đ ng dài 0, 3m; hía Đông giáp thửa 3 dài 2 ,33m; hía Tây giáp thửa dài 25,0 m; thu c thửa đất số 3 , tờ bản đ số 0, đất ở phường Tân L p, tỉnh Đắk Lắk địa chỉ c : phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thu t, tỉnh Đắk Lắk .

Ông Phan Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh không thực hiện trong thời hạn tự nguyện thi hành án thì giải quyết theo Lu t thi hành án dân sự.

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện b sung của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L, bà V Thị Thu H về việc bu c bị đơn ông Phan Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh phải tháo dỡ phần mái tôn c ng ống nước thải đặt ở trên mái tôn và các biển hiệu đặt trên phần diện tích đất lấn chiếm, trả lại diện tích đất lấn chiếm khoảng 10m2, có tứ c n: hía Đông giáp thửa số 3 tờ bản đ số 0 của vợ ch ng chúng tôi; hía Tây giáp thửa đất số tờ bản đ số 0 của ông han Thanh B; Phía Nam giáp đường hạm Văn Đ ng; hía Bắc giáp thửa đất số 3 tờ bản đ số 0.

(Kèm theo bản án sơ thẩm: Bản vẽ chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính số 10-2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk).

Về chi phí khai thác sử dụng tài liệu đất đai, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí đo vẽ kỹ thuật thửa đất tranh chấp, chi phí định giá:

Ông Phan Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh phải chịu chi phí khai thác sử dụng tài liệu đất đai là 850.000 đ ng, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.000.000 đ ng, chi phí định giá là 3.500.000 đ ng, chi phí đo vẽ kỹ thu t thửa đất là .512.000đ ng.

ng Nguyễn Thanh L, bà V Thị Thu H được nh n lại các khoản tiền tạm ứng chi phí khai thác sử dụng tài liệu đất đai là 850.000 đ ng, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.000.000 đ ng, chi phí định giá là 3.500.000 đ ng, chi phí đo vẽ kỹ thu t thửa đất là .512.000đ ng sau khi thu được của ông han Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh.

Về án phí dân sự sơ thẩm: ng Nguyễn Thanh L, bà V Thị Thu H được nh n lại số tiền tạm ứng án phí 1.550.000 đ ng đã n p theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/000 3 8 tại hi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thu t ngày 15/11/2023 và số tiền tạm ứng án phí 500.000 đ ng đã n p theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00011 tại hi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thu t ngày 31/3/2025.

Bị đơn ông han Thanh B, bà Ngô Thị Bích Hạnh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là . 90.000 đ ng.

Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bị đơn ông Phan Thanh B phải chịu 300.000 đ ng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, đã n p tại biên lai thu tiền số 0002101 ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 lu t thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Lu t thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Lu t thi hành án dân sự.

Các phần khác của n i dung bản án không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp lu t kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể t ngày tuyên án./.

Cỡ chữ