vanban.org

Bản án 90/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Danh T phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Xử phạt bị cáo Danh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Danh T cho Ủy ban nhân dân phường A, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Danh T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Danh T phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt tù; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
———————
Bản án số: 90/2025/HS-ST
Ngày 27-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Bửu Huệ và bà Vương Thị Hồng Thanh

- Thư ký phiên tòa: ông Võ Kim Vinh, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Cao Tấn Ngoan, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở 1) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2025/QĐXX-HS ngày 13/8/2025 đối với bị cáo:

Danh T, sinh năm 1992 tại tỉnh Sóc Trăng; thường trú: ấp T, xã Lâm T, huyện T, tỉnh S (nay là xã L, thành phố C); tạm trú: số 120/1, khu phố 1A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khơ me; tôn giáo: Phật; giới tính: nam; con ông Danh M, sinh năm 1962 và bà Thị Xà Q, sinh năm 1966; có 08 anh, chị, em ruột, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 2007; vợ tên Ngô Thị N, sinh năm 1997 (đã chết); có 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: chưa xác định được danh tính.

- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984; địa chỉ: số 68, đường 11, khu phố 8, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

2. Anh Hà D, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp 2, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh). Vắng mặt.

- Người làm chứng: ông Phan Văn T, sinh năm 1991. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Danh T được Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp Giấy phép lái xe ô tô Hạng C, số giấy phép 740220004326 ngày 07/03/2022, có giá trị đến ngày 07/03/2027. T làm nghề lái xe ô tô chở nước đá cho Công ty TNHH nước đá B, địa chỉ: thửa đất số 219, tờ bản đồ số 18(D4), khu phố 1A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố H).

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 06/01/2025, anh Nguyễn Văn T là giám đốc Công ty TNHH nước đá B điều động Danh T điều khiển xe ô tô tải thùng kín hiệu Mitsubishi màu trắng biển số 62C-177.53 chở nước đá cây đi giao cho khách hàng tại khu vực thành phố D, tỉnh Bình Dương. Đi cùng Danh T còn có phụ xe là anh Phan Văn T. Khoảng 20 giờ 00 cùng ngày, Danh T điều khiển xe ô tô tải chở nước đá cây đi từ nhà máy tại phường A lưu thông vào tuyến đường ĐT743B về hướng Trung tâm y tế D, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh).

Khoảng 20 giờ 45 cùng ngày, khi xe ô tô của T điều khiển đi đến đoạn đường cong đường H thuộc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh), trong điều kiện trời tối, có đèn đường chiếu sáng, Danh T điều khiển xe ô tô lưu thông với tốc độ khoảng 40km/h trên làn đường dành cho xe ô tô. Cùng lúc này, Danh T phát hiện có một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch, có dấu hiệu sử dụng rượu bia) đang đi bộ từ làn đường xe ô tô của chiều đi ngược lại sang làn đường xe ô tô T đang lưu thông cách vị trí xe ô tô tải của T khoảng 06m; Danh T xử lý bằng cách đánh lái sang trái nhưng không kịp nên để phần đầu xe ô tô phía bên trái va chạm vào người đi bộ ngã xuống đường, lọt vào gầm xe bên trái, dẫn đến tai nạn giao thông.

Hậu quả: người đi bộ bị đa chấn T chết trên đường đi cấp cứu. Xe ô tô tải thùng kín hiệu Mitsubishi màu trắng, biển số 62C-177.53 hư hỏng nhẹ.

* Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 06/01/2025 thể hiện:

- Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường cong, mặt đường thảm nhựa, bằng phẳng, khô ráo, không có chướng ngại vật che khuất tầm nhìn của người tham gia giao thông, đường có đèn chiếu sáng công cộng. Đường có vạch sơn vàng phân biệt hai phần đường, chiều đường xe chạy, các phương tiện được lưu thông hai chiều theo hướng đi từ ĐT743A về đường Trần Hưng Đạo và ngược lại. Mỗi phần đường có vạch nét sơn liền vạch sơn nét đứt phân biệt làn đường xe ô tô-mô tô lưu thông. Phần đường bên phải có chiều đi từ đường ĐT743A về đường Trần Hưng Đạo có làn xe mô tô rộng 2.80m, làn xe ô tô rộng 3.50m. Đường không có vạch sơn dành cho người đi bộ qua đường;

+ Chiều đi từ hướng đường ĐT743A về đường Trần Hưng Đạo có các biển báo hiệu giao thông gồm: biển báo chỉ dẫn số lượng làn đường và loại phương tiện (ô tô – mô tô) được lưu thông trên từng làn đường cách hiện trường 1,2km; biển báo cấm xe ô tô có trọng tải 10 tấn; biển báo hiệu nguy hiểm chỗ ngoặc vòng bên phải cách hiện trường 100m, biển báo cấm xe ô tô có trọng tải 10 tấn; biển cấm xe ô tô tải có trọng tải 1,5 tấn lưu thông vào, thời gian từ 06:00 – 08:00 và 16:00 – 18:00, cách hiện trường 80m.

- Vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

Xe ô tô đầu kéo mang biển số 62C-177.53 (ký hiệu số 1 trên hiện trường) sau tai nạn đỗ lại trên làn đường xe ô tô của phần đường bên phải, chiều đi từ hướng đường ĐT743A về đường Trần Hưng Đạo. Đầu xe hướng về hướng đi về đường Trần Hưng Đạo, đuôi xe hướng về hướng đi đường ĐT743A. Trục bánh trước bên phải cách lề chuẩn là 4,40m, cách đầu vạch sơn phân làn đường (4) là 2,60m. Trục bánh sau bên trái cách đầu vạch sơn (5) là 4,20m.

Dấu vết máu nạn nhân để lại trên mặt đường sau tai nạn (ký hiệu số 2 trên hiện trường) trên làn đường xe ô tô của phần đường bên phải theo chiều đi từ hướng đường ĐT743A về đường Trần Hưng Đạo. Dấu vết máu có dạng chảy loang không rõ hình dạng, kích thước 0,70x0,60cm. Vị trí vết máu cách trục bánh trước bên phải xe ô tô biển số 62C-177.53 là 1,90m, cách vào lề chuẩn là 5,80m.

* Kết luận giám định pháp y tử thi số 87/KLGĐT-KTHS ngày 09/1/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương (nay là Công an Thành phố Hồ Chí Minh), xác định: tử thi “Nam giới chưa rõ lai lịch” trong vụ tai nạn có dấu hiệu chính qua giám định: nhiều vết sây xát da, tụ máu bên ngoài; vỡ xương sọ, hố sọ trái; xuất huyết não, dập não, xuất huyết trong thể chai, cầu não; gãy nhiều xương sườn, gãy xương ức; dập rải rác hai phổi, dập tim, vỡ lách.

Nguyên nhân chết do “đa chấn T”.

* Kết luận giám định cồn số 818/KL-KTHS(HPL) đề ngày 11/02/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương (nay là Công an Thành phố Hồ Chí Minh), xác định: mẫu máu thu giữ từ tử thi nam giới chưa rõ lai lịch trong vụ tai nạn ngày 06/01/2025 được gửi giám định có thành phần Ethanol (cồn), nồng độ 307,90mg/100ml máu.

* Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn và chất ma tuý của tài xế Danh T tại Trung tâm y tế Dĩ An ngày 06/01/2025 thể hiện tài xế không sử dụng chất có cồn, không sử dụng chất ma tuý.

* Kết luận giám định cơ học số 583/K1-KTHS ngày 19/02/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương (nay là Công an Thành phố Hồ Chí Minh), xác định:

- Các dấu vết thụng móp, cong biến dạng kim loại trước đầu xe (vị trí có dòng chữ Canter), cản trước (vị trí bên phải biển số) xe ô tô tải biển số 62C-177.53, có chiều từ trước về sau phù hợp do va chạm với vật cản khác tạo ra;

- Dấu vết trên người nạn nhân chưa rõ lai lịch phù hợp do va chạm tai nạn giao thông tạo ra, đặc điểm của dấu vết không đủ cơ sở để xác định do va chạm với chi tiết nào của xe nào tạo ra.

* Kết luận giám định số 584/KL/KTHS(SCKT) ngày 10/02/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương (nay là Công an Thành phố Hồ Chí Minh) đối với xe ô tô tải biển số 62C-177.53, xác định: hệ thống lái, hệ thống phanh có các cụm chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí, không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật.

Tại cáo trạng số 40/CT – VKS – KV16 ngày 25 tháng 7 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Danh T về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025 để xử phạt bị cáo Danh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Đối với anh Nguyễn Văn T là người giao xe ô tô cho Danh T sử dụng: khi giao xe anh Thường biết rõ Danh T đã được cấp giấy phép lái xe ô tô Hạng C, phù hợp với xe điều khiển, không có sử dụng rượu bia, không sử dụng chất ma tuý; phương tiện hư hỏng nên không có dấu hiệu của tội “Giao phương tiện cho người không đủ điều kiện tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại Điều 264 Bộ luật Hình sự.

Giấy phép lái xe ô tô hạng C, số giấy phép 740220004326 tên Danh T, đề nghị Toà án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh xem xét trả lại cho bị cáo.

Đối với bị hại là người đi bộ sống lang thang tại đoạn đường Hai Bà Trưng, không có giấy tờ tuỳ thân, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh) đã thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng không có nhân thân đến nhận xác. Ngày 21/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (nay là Công an Thành phố Hồ Chí Minh) đã bàn giao thi thể nạn nhân trong vụ tai nạn cho Đại diện UBND phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) để tiến hành mai táng theo quy định tại khoản 4, Điều 82 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ năm 2024.

Về trách nhiệm dân sự: chưa giải quyết (do chưa xác định được nhân thân bị hại).

Đối với xe ô tô tải thùng kín hiệu Mitsubisi màu trắng, biển số 62C-177.53 là tài sản của anh Hà D, sinh năm 1988, thường trú: ấp 2, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 05/01/2024, anh Hà D bán lại xe ô tô cho anh Nguyễn Văn T là chủ Công ty nước đá Bình Dương nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Đến ngày 06/01/2025, anh Nguyễn Văn T giao xe cho tài xế Danh T sử dụng xe để đi giao nước đá thì xảy ra tai nạn giao thông. Xe không có thiết bị giám sát hành trình, không có camera hành trình, thời hạn kiểm định xe đến hết ngày 18/05/2025. Xe có đủ giấy tờ chứng minh nguồn gốc, không có tranh chấp về quyền sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã trả lại cho anh Nguyễn Văn T.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận đối đáp gì. Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về thực hiện hành vi vi phạm: Danh T có Giấy phép lái xe hạng C. Khoảng 20 giờ 55 phút ngày 06/01/2025 tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh), đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm “Chỗ ngoặc nguy hiểm vòng bên phải” cách hiện trường 100m. Biển báo nguy hiểm “Người đi bộ cắt ngang” cách hiện trường 160m, Danh T điều khiển xe ô tô tải thùng kín hiệu Mitsubishi màu trắng mang biển số 62C-177.53 không giảm tốc độ, thiếu chú ý quan sát phía trước để phần đầu xe ô tô phía bên trái va chạm vào người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) có nồng độ cồn đi bộ sang đường và không chú ý quan sát, làm người đàn ông ngã xuống đường, lọt vào gầm xe bên trái, dẫn đến tai nạn. Hậu quả là người đi bộ (chưa rõ lai lịch) bị đa chấn T và chết trên đường đi cấp cứu. Hành vi của bị cáo vi phạm điều cấm tại điểm b, d khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự an toàn, giao thông đường bộ năm 2014 và đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025). Cáo trạng số 40/CT – VKS – KV16 ngày 08 tháng 8 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: tội phạm do bị cáo thực hiện là tội nghiêm trọng, đã xâm phạm an toàn công cộng, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của người tham gia giao thông. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tai nạn xảy ra có một phần lỗi của bị hại, có nồng độ cồn 307,90mg/100ml máu khi qua đường không chú ý quan sát là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: bị cáo là người lao động, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, vợ đã chết, hiện đang nuôi 01 con còn nhỏ, sinh năm 2016.

Về trách nhiệm dân sự: chưa giải quyết (do chưa xác định được nhân thân bị hại).

Đối với 01 (một) xe ô tô tải thùng kín hiệu Mitsubishi màu trắng mang biển số 62C-177.53 do Danh T điều khiển là tài sản thuộc sở hữu của anh Hà D. Anh D đã bán xe cho anh Thường nhưng chưa sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh trả lại xe ô tô tải thùng kín hiệu Mitsubishi màu trắng mang biển số 62C-177.53 cho anh Nguyễn Văn T là phù hợp.

Đối với anh Nguyễn Văn T là người giao xe ô tô cho Danh T sử dụng: khi giao xe anh T biết rõ Danh T đã được cấp giấy phép lái xe ô tô Hạng C, phù hợp với xe điều khiển, không có sử dụng rượu bia, không sử dụng chất ma tuý; phương tiện hư hỏng nên không có dấu hiệu của tội “Giao phương tiện cho người không đủ điều kiện tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại Điều 264 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

Xét thấy, mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, có nơi cư trú rõ ràng. Tai nạn xảy ra có một phần lỗi của bị hại, hiện nay vợ bị cáo đã chết, bị cáo đang nuôi con nhỏ. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo, phù hợp với quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ sức răn đe, giáo dục và không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến tình hình đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương. Vì vậy, cần hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư số 06/2025/LCĐKNCT ngày 08/8/2025 của Tòa án nhân dân thành phố khu vực 16-Thành phố Hồ Chí Minh. Trả lại cho bị cáo giấy phép lái xe hạng C số 740220004326 tên Danh T.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật.

Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Danh T phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt bị cáo Danh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Danh T cho Ủy ban nhân dân phường A, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 06/2025/LCĐKNCT ngày 08/8/2025 của Tòa án nhân dân thành phố khu vực 16-Thành phố Hồ Chí Minh.

Trả lại cho bị cáo giấy phép lái xe hạng C số 740220004326 tên Danh T.

2. Án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Danh T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ