vanban.org

Bản án 90/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Huỳnh Văn T và bà Trương Thị Nh là vợ chồng.

Về quyền nuôi con chung: Giao con là Trương Khánh L (giới tính nam), sinh ngày 02 tháng 02 năm 2022 cho ông Huỳnh Văn T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Trương Thị Nh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Huỳnh Văn T và bà Trương Thị Nh là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3- CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13-8-2025
V/v xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Vẹn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Minh Út

Bà Phạm Hồng Ân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Bảo Trân là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 3- Cà Mau.

Ngày 13 tháng 8 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 3- Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 209/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118b/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1990 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp R, xã N, tỉnh Cà Mau

- Bị đơn: Bà Trương Thị Nh, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27/5/2025, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ông Huỳnh Văn T trình bày:

Năm 2021, ông và bà Trương Thị Nh tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn. Nguyên nhân là vợ chồng bất đồng ý kiến trong việc tính toán làm ăn và trong sinh hoạt hằng ngày. Vợ chồng không có tiếng nói chung, không còn tin tưởng và tôn trọng nhau nên thường xuyên xảy ra cự cải, giận dỗi. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt và trầm trọng, không thể hàn gắn được nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Xét thấy giữa ông và bà Nh không còn tình cảm, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên ông yêu cầu ly hôn bà Trương Thị Nh.

Ông và bà Nh có 01 người con chung tên là Trương Khánh L, sinh ngày 02/02/2022, hiện con đang sống với ông T, khi ly hôn ông yêu cầu giao con cho ông tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu bà Nh cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà Trương Thị Nh đã được triệu tập tham gia tố tụng nhiều lần nhưng đều vắng mặt, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Ông Huỳnh Văn T khởi kiện bà Trương Thị Nh yêu cầu ly hôn, yêu cầu giải quyết về con chung nên đây là vụ án hôn nhân và gia đình, quan hệ tranh chấp về “xin ly hôn”, bị đơn bà Nh cư trú tại xã R nay là xã N, tỉnh Cà Mau nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Huỳnh Văn T có yêu cầu xin vắng mặt, bà Trương Thị Nh vắng mặt lần thứ hai không có lý do, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân, ông Huỳnh Văn T và bà Trương Thị Nh kết hôn năm 2021, đến nay không đăng ký kết hôn theo quy định, nên quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà Nh không được pháp luật công nhận. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông T và bà Nh là đúng theo quy định tại Điều 9 và 14 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung, ông T xác định ông và bà Nh có một người con chung là Trương Khánh L, sinh ngày 02/02/2022, hiện đang sống với ông, ông yêu cầu tiếp tục nuôi con, bà Nh không có ý kiến. Xét thấy, con chung hiện đang sống với ông T, để ổn định môi trường sống, tâm lý của con chung nên tiếp tục giao con chung cho ông T tiếp tục nuôi là phù hợp. Ông T không yêu cầu bà Nh cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

[5] Ông T và bà Nh không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Ông Huỳnh Văn T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, ông T đã nộp xong, nay chuyển thu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng Điều 9, 14, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Huỳnh Văn T và bà Trương Thị Nh là vợ chồng.

2. Về quyền nuôi con chung: Giao con là Trương Khánh L (giới tính nam), sinh ngày 02 tháng 02 năm 2022 cho ông Huỳnh Văn T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Bà Trương Thị Nh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

3. Về án phí: Ông Huỳnh Văn T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Ông Huỳnh Văn T được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0004222 ngày 13 tháng 6 năm 2025, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Cà Mau), ông T đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ