vanban.org

Bản án 90/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân, không công nhận vợ chồng giữa chị Đặng Hồng Đ và anh Dương Hoàng H.

Về con chung là Dương Huyền Trân, sinh ngày 23/12/1999; Dương Thế Trân, sinh ngày 17/7/2001 và Dương Bé Nhỏ, sinh ngày 31/12/2004. Hiện các con đã trưởng thành, tự nuôi sống bản thân được nên khi ly hôn, chị Đặng Hồng Đ và anh Dương Hoàng H không đặt ra yêu cầu gì về con nên không đặt ra xem xét. Về… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân, không công nhận vợ chồng giữa chị Đặng Hồng Đ và anh Dương Hoàng H.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN,
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2025/HNGĐ-ST
Ngày 29 – 4 – 2025
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Minh Trọn.

2. Bà Nguyễn Kim Huệ.

- Thư ký phiên toà: Ông Lữ Tấn Thiên – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 29 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 132/2025/TLST - HNGĐ ngày 17/4/2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đặng Hồng Đ, sinh năm 1980; Địa chỉ: ấp Cái Nước B, xã Phú T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Dương Hoàng H, sinh năm 1979; Địa chỉ: ấp Cái Nước B, xã Phú T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Đặng Hồng Đ và anh Dương Hoàng H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1999, nhưng không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân theo anh, chị trình bày là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hòa hợp dẫn đến việc vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, từ đó đời sống chung của vợ chồng không hạnh phúc nên cả hai cùng yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung, chị Đặng Hồng Đ và anh Dương Hoàng H khai có ba người con là Dương Huyền Trân, sinh ngày 23/12/1999; Dương Thế Trân, sinh ngày 17/7/2001 và Dương Bé Nhỏ, sinh ngày 31/12/2004. Hiện các con đã trưởng thành, tự nuôi sống bản thân được nên khi ly hôn, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, chị Đặng Hồng Đ và anh Dương Hoàng H tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung, chị Đặng Hồng Đ và anh Dương Hoàng H khai không có.

Đồng thời, chị Đặng Hồng Đ (nguyên đơn) và anh Dương Hoàng H (bị đơn) có đơn xin vắng mặt hòa giải, xét xử vụ án với lý do bận công việc làm thuê nên không tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về thủ tục tố tụng, nguyên đơn cùng bị đơn đã có lời khai và có yêu cầu xin hòa giải, xét xử vắng mặt với lý do bận công việc nên không tham gia phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự chấp nhận yêu cầu xin vắng mặt của các đương sự.

Về hôn nhân, nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau từ năm 1999 đến nay tuy đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn theo luật định nên căn cứ vào khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì việc kết hôn trên không được đăng ký theo quy định là không có giá trị pháp lý. Nay các đương sự cùng đồng ý chấm dứt quan hệ hôn nhân do có nhiều mâu thuẫn. Xét mâu thuẫn thực tế được các đương sự thừa nhận là có thật và cũng chính từ mâu thuẫn trên mà các đương sự không còn tình cảm với nhau. Đồng thời, do hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên quan hệ hôn nhân giữa các đương sự không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Về con chung là Dương Huyền Trân, sinh ngày 23/12/1999; Dương Thế Trân, sinh ngày 17/7/2001 và Dương Bé Nhỏ, sinh ngày 31/12/2004. Hiện các con đã trưởng thành, tự nuôi sống bản thân được nên khi ly hôn, các đương sự không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, các đương sự tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung, các đương sự khai không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, nguyên đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 9, 14 và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 144, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân, không công nhận vợ chồng giữa chị Đặng Hồng Đ và anh Dương Hoàng H.

- Về con chung là Dương Huyền Trân, sinh ngày 23/12/1999; Dương Thế Trân, sinh ngày 17/7/2001 và Dương Bé Nhỏ, sinh ngày 31/12/2004. Hiện các con đã trưởng thành, tự nuôi sống bản thân được nên khi ly hôn, chị Đặng Hồng Đ và anh Dương Hoàng H không đặt ra yêu cầu gì về con nên không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung, chị Đặng Hồng Đ và anh Dương Hoàng H tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

- Về nợ chung, chị Đặng Hồng Đ và anh Dương Hoàng H khai không có nên không xem xét.

- Về án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, chị Đặng Hồng Đ phải chịu số tiền 300.000 đồng. Ngày 17/4/2025, chị Đ đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0004030 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ