- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: bị cáo Trần Hữu T1 phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2024/HSST Ngày: 22 - 05 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Sao;
- Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: bà Huỳnh Thị Thúy T - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 92/2024/HSST ngày 24 tháng 04 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 05 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Hữu T1; sinh năm 1983, tại: TP .; Nơi đăng ký NKTT: 509/2 Phạm Văn H(Số mới: G N), Phường C, Quận T, TP .; chỗ ở hiện nay: như trên; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần T2sinh năm 1951 và bà: Đặng Thị H1, sinh năm 1957; vợ, con: chưa;
Tiền án, tiền sự: không
Bị bắt tạm giữ ngày 17/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T30) Công an T3 và có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi & nghĩa vụ liên quan: Chị Đỗ Thị Tuyết Msinh năm 1984; trú tại: A ấp A, xã P, huyện B, TP . (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 16/11/2023 Tổ tuần tra 363 Công an quận Ttuần tra theo kế hoạch thì phát hiện đương sự Trần Hữu T1đang điều khiển xe máy Luvias biển số 59N1 – 255.51 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra trước số E L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần phía sau bên trái T1đang mặc có 02 đoạn ống hút được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy nên tổ tuần tra đưa T1về Công an phường Pquận Tlập biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 40).
Tại Cơ quan điều tra, Trần Hữu T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Trần Hữu T1khai nhận Thức mua ma tuý của một người phụ nữ (không
rõ lai lịch) với giá 200.000 đồng tại nghĩa trang B, quận Bđể về sử dụng. (BL 28)
Theo bản kết luận giám định số 12984/KL - KTHS ngày 22/11/2023 của Phòng KCông an Thành phố T3 kết luận: chất bột màu trắng được ký hiệu mẫu (m) thu giữ của Trần Hữu T1là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,2219g, loại Heroine.
Vật chứng:
- 01 gói niêm phong số 2522/23 (12984) bên ngoài có chữ ký ghi tên Đại úy Võ La Bảo Y (Giám định viên), Nguyễn Trọng H2 (cán bộ điều tra) bên trong chứa chất ma túy sau giám định.
- 01 điện thoại di động hiệu S A01, số thuê bao: 0764212076, số IMEI (1): 035471102988771, IMEI (2): 359472102988779.
- 01 xe máy hiệu Yamaha Luvias, biển số : 59N1 – 255.51, số máy: 44S1043100, số khung: RLCL44S10BY043100. Tại bản Cáo trạng số 110/CT-VKSQ.TP ngày 23 tháng 04 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Trần Hữu T1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên Tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, TP . giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Trần Hữu T1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập xử lý vật chứng.
- Bị cáo Trần Hữu T1 đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Hữu T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 22 giờ 10 phút ngày 16/11/2023, Trần Hữu T1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,2219g, ma túy ở thể rắn, loại Heroin tại trước nhà số E L, phường P, quận T thì bị bắt giữ cùng tang vật.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Trần Hữu T1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến các chính sách, quy định của Nhà nước trong việc quản lý, cất giữ chất ma túy mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả do bị cáo gây ra để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi nghị án lượng hình cũng cần cân nhắc xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với người phụ nữ không rõ lai lịch bán ma túy cho T1, do T1 không biết rõ nhân thân lai lịch nên chưa làm việc được. Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, truy tìm khi nào làm việc được sẽ xử lý sau là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 gói niêm phong số 2522/23 (12984) bên ngoài có chữ ký ghi tên Đại úy Võ La Bảo Y (Giám định viên), Nguyễn Trọng H2 (cán bộ điều tra) bên trong chứa chất ma túy sau giám định. Cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A01, số thuê bao: 0764212076, số IMEI (1): 035471102988771, IMEI (2): 359472102988779. T1 dùng để liên lạc cá nhân. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 xe máy hiệu Yamaha Luvias, biển số : 59N1 – 255.51, số máy: 44S1043100, số khung: RLCL44S10BY043100.
Qua giám định ngày 03/01/2024 Phòng KCông an Thành phố T3có kết luận giám định số 387/KL-KTHS đối với 01 (một) xe gắn máy biển số 59N1-25551 có số khung: RLCL44S10BY043100, số máy: 44S1-043100 kết luận: Số khung, số máy bị mài, đục lại số, không xác định được số nguyên thủy. Kết quả tra cứu xe máy trên tại Phòng PC01 Công an Thành phố T3xác định không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Hội đồng xét xử nghĩ nên giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, TP .đăng tìm chủ sở hữu trên phương tiện thông tin đại chúng, thời hạn 06 tháng. Nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Tiến hành xác minh biến số: 59N1-25551 có số khung: RLCL44S10BY043100, số máy: 44S1-043100 do bà Đỗ Thị Tuyết Mđịa chỉ: 3 đường số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minhđứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc bà Đỗ Thị Tuyết Mcho biết: Vào tháng 03/2014 bà Đỗ Thị Tuyết Mmua xe gắn máy hiệu Luvias biển số 59N1-25551 có số khung: RLCL44S10BY043100, số máy: 44S1-043100 với giá 29.500.000 đồng, bà Mđứng tên chủ sở hữu. Đến năm 2019 do không có nhu cầu sử dụng nên bà Mđã bán xe gắn máy trên cho một thanh niên tên M1(không rõ lai lịch) với giá 15.000.000 đồng. Khi bán xe bà Mcó làm giấy mua bán xe nhưng không có công chứng và chưa sang tên chủ sở hữu xe trên (hiện giấy bán xe đã thất lạc). Do bà Mđã bán xe nên không có yêu cầu và khiếu nại gì. Hội đồng xét xử nghĩ cần tuyên tịch thu tiêu hủy. [7] Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố: bị cáo Trần Hữu T1 phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
[2] Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Xử phạt: bị cáo Trần Hữu T1 02 (Hai) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 17/11/2023.
[4] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 2522/23 (12984) bên ngoài có chữ ký ghi tên Đại úy Võ La Bảo Y (Giám định viên), Nguyễn Trọng H2 (cán bộ điều tra) bên trong chứa chất ma túy sau giám định; 01 biển số: 59N1 – 255.51.
- Trả lại cho bị cáo Trần Hữu T1: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A01, số thuê bao: 0764212076, số IMEI (1): 035471102988771, IMEI (2): 359472102988779.
- Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, TP .đăng tìm chủ sở hữu trên phương tiện thông tin đại chúng, thời hạn 06 tháng, nếu không tìm được chủ sở hữu thì sung vào ngân sách Nhà nước đối với: 01 xe máy hiệu Yamaha Luvias, số máy: 44S1043100, số khung: RLCL44S10BY043100.
Hiện các đồ vật tài sản trên đã được nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 07/PNK ngày 20/12/2023 của Cơ quan CSĐT Công an quận T.
[5] Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Buộc bị cáo Trần Hữu T1 phải nộp: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: bị cáo Trần Hữu T1 được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có QL&NV liên quan; - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND Q.Tân Phú; - THADS quận Tân Phú; - Công an Q.Tân Phú; - CATP. HCM; - Sở Tư pháp TP . HCM; - Lưu hồ sơ. Nguyễn Đức Thành |