- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2024/HSST Ngày 17.12.2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Quốc Minh và bà Đào Thị Hải Lý.
- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Thơ - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động tham gia phiên tòa: ông Bùi Kim Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 92/2024/TLST-HS ngày 27/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HS ngày 04/12/2024, đối với:
Bị cáo: Trần Văn T, sinh năm 1981; nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12. Con ông: Trần Xuân D (đã chết) và con bà: Bùi Thị T. Vợ: Hà Thị Ngọc L; bị cáo có 02 con; con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: ngày 23/11/2016, bị Toà án nhân dân Thành Phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/9/2024, chuyển tạm giam từ ngày 23/9/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người làm chứng: ông Lương Đình C, sinh năm 1970; trú tại: thôn N, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).
Người chứng kiến: ông Dương Ngọc H, sinh năm 1993; trú tại: thôn P, xã T, huyện C, Thành phố H (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 50 phút, ngày 20/9/2024, tại đoạn đường bê tông, thuộc địa phận thôn Nghĩa Giang, xã Toàn Thắng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, lực lượng Công an huyện Kim Động và Công an xã Toàn Thắng, kiểm tra phát hiện, bắt quả tang Trần Văn T có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, mục đích để sử dụng. Thu tại lòng bàn tay phải của T 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất dạng cục và bột màu trắng đục, T khai nhận là ma tuý Heroine.
Tại kết luận giám định số 615/KL-KTHS(MT) ngày 23/9/2024 của Phòng Kỹ thuật Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cụ và bột trong niêm phong, có khối lượng là 0,223 gam, là ma tuý, loại Heroine.
Trần Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. T khai nhận: T nghiện ma tuý Heroine. Chiều ngày 20/9/2024 T đi nhờ xe của một người đi đường đến thôn Nghĩa Giang, xã Toàn Thắng, tìm mua ma tuý để sử dụng. Tại đây T gặp và mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ 01 gói ma tuý Heroine với giá 200.000 đồng. Sau đó, T cầm gói ma tuý vừa mua được tại lòng bàn tay bên phải, rồi đi tìm chỗ sử dụng, thì bị phát hiện bắt giữ.
Đối với người đàn ông T khai đã bán ma tuý cho T. Do T khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Kim Động (dưới đây viết tắt là: Cơ quan điều tra) không có căn cứ xác minh làm rõ và xử lý.
Về vật chứng: 01 niêm phong ghi số 615/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,216 gam ma tuý loại Heroine, 01 mảnh giấy bạc gói ma tuý và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định, được niêm phong trong phong bì là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen.
Cáo trạng số 93/CT-VKSKĐ ngày 26/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã truy tố Trần Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động trình bày luận tội: giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Trần Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Xử phạt: bị cáo Trần Văn T từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 20/9/2024.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật ghi số 615/KL-KTHS(MT), bên trong có: 0,216 gam ma tuý, loại Heroine; 01 mảnh giấy bạc gói ma tuý và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.
+ Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định số 615/KL-KTHS(MT) ngày 23/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận: Hồi 15 giờ 50 phút, ngày 20/9/2024, tại thôn Nghĩa Giang, xã Toàn Thắng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, Trần Văn T đã tàng trữ trái phép 0,223 gam ma tuý, loại Heroine, nhằm mục đích để sử dụng, thì bị phát hiện. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động truy tố bị cáo Trần Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đã thành niên, nhận thức rất rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm các quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma tuý, đe dọa nghiêm trọng đến trật tự công cộng, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân và gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để làm bài học ngăn ngừa tội phạm chung.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho T. Do T khai không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xác minh làm rõ và xử lý.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
- Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân của bị cáo: bị cáo có nhân thân xấu là người nghiện ma tuý ngày 23/11/2016 bị cáo đã bị Toà án kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Về hình phạt: căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, bị cáo là người lao động tự do, nghiện ma túy, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- 0,216 gam ma tuý, loại Heroine, hoàn sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu huỷ.
- 01 mảnh giấy bạc gói ma tuý và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định là vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu cho huỷ.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen thu giữ của bị cáo. Bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại bị cáo. Tại phiên toà, bị cáo uỷ quyền cho chị Hà Thị Ngọc L, sinh năm 1981, địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Hưng Yên. (vợ bị cáo) nhận thay. Chị L nhất trí nhận uỷ quyền của bị cáo. Do vậy, chị L được nhận chiếc điện thoại trên thay bị cáo.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn T.
Tuyên bố: bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 20/09/2024.
Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tịch thu cho huỷ 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật ghi số 615/KL-KTHS(MT), bên trong có: 0,216 gam ma tuý, loại Heroine; 01 mảnh giấy bạc gói ma tuý và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.
+ Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen. Chị L nhận thay.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng nêu trên được thể hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện Kim Động và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Động ngày 16/12/2024).
Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh (Phòng KTNV & THA); - VKSND huyện; - Cơ quan điều tra và bộ phận HSNV Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - Bị cáo; - Sở Tư Pháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Oanh |