- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Phan Thị Hồng H - Cao Thị B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Hồng H- Chủ hộ kinh doanh (bà H) về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” đối với bà Cao Thị B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2024/DS-ST Ngày: 06-8- 2024 V/V “tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Trí.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Ngọc Dình.
Ông Đinh Ngọc Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 179/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Hồng H- Chủ hộ kinh doanh. Địa chỉ: Phường A, thành phố A, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Bà Huỳnh Thị Kim N. Địa chỉ: Ấp X, thị trấn V, huyện T, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Bà Cao Thị B. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10-5-2024 và tại biên bản hòa giải ngày 27-6-2024 bà Huỳnh Thị Kim N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Bà B là khách hàng của cửa hàng bà H từ năm 2019 đến năm nay, thường xuyên mua các loại vật tư nông nghiệp sử dụng trên cây thanh long của gia đình bà theo hình thức trả chậm. Nhưng hiện nay gia đình bà không còn mua vật tư nông nghiệp ở cửa hàng tôi nữa, nhưng số tiền mua phân thuốc của cửa hàng tôi bà B đã hẹn nhiều lần nhưng không trả. Tính đến ngày 15/6/2021, tổng số tiền nợ cộng dồn qua các năm là 11.345.000 đồng.
Nay bà H yêu cầu bà B trả số tiền vốn mua bán là 11.345.000 đồng, yêu cầu tính lãi suất chậm trả là 0,83%/ tháng thời gian tính lãi từ ngày 15/6/2021 đến ngày 15/5/2024), yêu cầu trả trong thời gian 01 tháng tính từ ngày 27/6/2024.
11.345.000 đồng x 0,83%/ tháng x 35 tháng = 3.295.000 đồng, tổng cộng là 14.640.000 đồng.
Bà Cao Thị B là bị đơn trình bày: Qua lời trình bày của bà N là người đại diện theo ủy quyền của bà H trình bày là đúng. Nay bà đồng ý trả cho bà H số tiền vốn mua bán và lãi suất như trên tổng cộng là 14.640.000 đồng, trả trong thời gian 02 tháng tính từ ngày 27/6/2024.
Tại phiên toà các đương sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ, cũng như không yêu cầu đưa thêm người tham gia tố tụng khác và không có yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ của vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại tòa phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Bà Phan Thị Hồng H- Chủ hộ kinh doanh (bà H) khởi kiện bà Cao Thị B về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” được quy định tại các điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành. Bà N xin vắng mặt, bà B vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đương sự.
Về nội dung vụ án: Xét thấy bà H yêu cầu bà B phải trả cho bà H số tiền vốn mua bán và lãi suất với số tiền tổng cộng là 14.640.000 đồng, yêu cầu trả 01 lần, khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại biên bản hòa giải ngày 27/6/2024 bà N là người đại diện theo uỷ quyền của bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của bà H đối với bà B. Bà B thừa nhận có nợ bà H số tiền trên, bà B xin trả trong thời gian hai tháng cho bà H nhưng không được bà N là người đại diện theo ủy quyền của bà H đồng ý và không phù hợp với quy định của pháp luật nên không có cơ sở chấp nhận. Nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H buộc bà B phải trả cho bà H số tiền vốn mua bán và lãi suất như trên tổng cộng là 14.640.000 đồng là phù hợp cần chấp nhận theo quy định tại các điều 430, 440, 468 Bộ luật dân sự năm 2015 khi án có hiệu lực pháp luật;
Về án phí:
Bà H không phải chịu án phí.
Bà B phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 357, 430, 440, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Hồng H- Chủ hộ kinh doanh (bà H) về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” đối với bà Cao Thị B.
Buộc bà B phải trả cho bà Phan Thị Hồng H- Chủ hộ kinh doanh (bà H) số tiền vốn mua bán và lãi suất như trên, tổng cộng là 14.640.000 đồng (mười bốn triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hằng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
Bà H không phải chịu án phí, bà H được nhận lại số tiền là 366.000 đồng (ba trăm sáu mươi sáu đồng) tạm ứng án đã nộp theo biên lai thu số 0008885 ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An.
Bà B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 732.000 đồng (bảy trăm ba mươi hai nghìn đồng).
3. Về kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh - Viện kiểm sát huyện - Chi cục THA dân sự huyện - Các đương sự -Lưu (hồ sơ, án văn) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Bảo Trí |