vanban.org

Bản án 90/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với Anh Phạm Văn G.

Buộc Anh Phạm Văn G trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ 19.705.755 đồng và lãi quá hạn 17.931.900 đồng (tính đến ngày 30/6/2024). Tổng cộng 37.637.655 đồng. Buộc Anh Phạm Văn G phải trả cho Ngân hàng TMCP S tiền lãi phát sinh theo hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 14/3/2016, từ ngày 01/7/2024 cho đến k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với Anh Phạm Văn G.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG H
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2024/DS-ST
Ngày 27-9-2024
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG H, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kiều Diễm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Lil

Bà Đỗ Kim Phụng

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quốc Đại, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông H, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông H, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Lê Quốc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 217/2024/TLST–DS, ngày 12 tháng 7 năm 2024, về tranh chấp hợp đồng tín dụng. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2024/QĐXXST-DS, ngày 15 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.

Địa chỉ: Số 266 - 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạnh Diễm, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Hồ Thanh K, chức vụ: Phó phòng giao dịch huyện Đông H

Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện Đông H, tỉnh Bạc Liêu. Anh K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đơn đề ngày 15/8/2024.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn G, sinh năm 1982, (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện Đông H, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 05/7/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S là Anh Hồ Thanh K (sau đây gọi là Ngân hàng) trình bày:

Ngày 14/3/2016, Anh Phạm Văn G có ký với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng tín dụng sử dụng thẻ, ngày 14/3/2016 Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng. Căn cứ thu nhập của Anh Phạm Văn G, Ngân hàng đã đồng ý giải ngân với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất thay đổi theo quy định của ngân hàng.

Sau khi giải ngân, Anh Phạm Văn G đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 87.100.000 đồng.

Trong quá trình vay, từ ngày giải ngân 14/3/2016 đến ngày 30/6/2024, Anh Phạm Văn G đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 103.392.000 đồng, do Anh Phạm Văn Gvi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 24 của điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng), nên ngày 31/7/2022 Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh Bạc Liêu đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 30/6/2024, Anh Phạm Văn G còn nợ số tiền 37.637.655 đồng (trong đó nợ gốc 19.705.755 đồng và lãi quá hạn 17.931.900 đồng).

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc và yêu cầu Anh Phạm Văn G có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ thẻ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để Anh Phạm Văn G trả nợ, tuy nhiên anh Anh Phạm Văn Gvẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng tín dụng thẻ cho vay đã ký. Nên Ngân hàng yêu cầu Anh Phạm Văn G trả cho ngân hàng số tiền nợ thẻ là 37.637.655 đồng (trong đó nợ gốc 19.705.755 đồng và lãi quá hạn 17.931.900 đồng) và Anh Phạm Văn G có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

+ Đối với bị đơn Anh Phạm Văn G: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cũng nhưng triệu tập Anh Phạm Văn G tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng Anh Phạm Văn G vắng mặt không rõ lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông H trình bày quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.

Về thủ tục tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án thời điểm này thấy rằng Thẩm phán, thư ký Tòa án chấp hành đúng quy định tại các điều 48, 51 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật đương sự: Từ khi thụ lý vụ án nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn thực hiện không đúng quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 26, 35, 39, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, buộc Anh Phạm Văn G trả cho Ngân hàng số tiền 37.637.655 đồng (trong đó nợ gốc 19.705.755 đồng và lãi quá hạn 17.931.900 đồng) (tính đến ngày 30/6/2024) và Anh Phạm Văn G có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 01/7/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch Anh Phạm Văn G phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Ngân hàng TMCP S yêu cầu Anh Phạm Văn G trả tiền vay. Căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc tranh chấp hợp đồng dân sự.

. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn Anh Phạm Văn G, Anh Phạm Văn G cư trú tại: Ấp P, xã A, huyện Đông H, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông H, tỉnh Bạc Liêu.

. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là Anh Hồ Thanh K có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và Anh Phạm Văn G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do. Do đó, căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật dân sự theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S yêu cầu Anh Phạm Văn G trả nợ gốc 19.705.755 đồng và lãi quá hạn 17.931.900 đồng. Tổng cộng 37.637.655 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tại hợp giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/3/2016 Ngân hàng đã ký với Anh Phạm Văn G hợp đồng sử dụng thẻ. Căn cứ thu nhập của Anh Phạm Văn G, ngày 14/3/2016 Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất thay đổi theo quy định của ngân hàng.

Sau khi sử dụng thẻ thì Anh Phạm Văn G từ ngày giải ngân 14/3/2016 đến ngày 30/6/2024, Anh Phạm Văn G đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 103.392.000 đồng, do Anh Phạm Văn Gvi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 24 của điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng), nên ngày 31/7/2022 Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh Bạc Liêu đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ sang nợ quá hạn. Như vậy, Anh Phạm Văn G còn thiếu ngân hàng số tiền nợ gốc 19.705.755 đồng và lãi quá hạn 17.931.900 đồng (tính đến ngày 30/6/2024). Tổng cộng 37.637.655 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Do Anh Phạm Văn G đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký. Căn cứ các điều 463, 466 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng về việc yêu Anh Phạm Văn Gtrả số tiền nợ gốc 19.705.755 đồng và lãi quá hạn 17.931.900 đồng (tính đến ngày 30/6/2024). Tổng cộng 37.637.655 đồng và trả lãi phát sinh tính từ ngày 01/7/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ theo hợp đồng tính dụng đã ký.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Do có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S nên Anh Phạm Văn G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; điểm a, b khoản 1 Điều 238, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với Anh Phạm Văn G.

- Buộc Anh Phạm Văn G trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ 19.705.755 đồng và lãi quá hạn 17.931.900 đồng (tính đến ngày 30/6/2024). Tổng cộng 37.637.655 đồng.

- Buộc Anh Phạm Văn G phải trả cho Ngân hàng TMCP S tiền lãi phát sinh theo hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 14/3/2016, từ ngày 01/7/2024 cho đến khi trả xong nợ cho ngân hàng.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc Anh Phạm Văn G phải chịu số tiền 1.881.882 đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông H, tỉnh Bạc Liêu.

Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí. Ngân hàng TMCP S đã nộp tạm ứng án phí số tiền 940.000 đồng theo biên lai thu số 0010447 ngày 11/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông H, tỉnh Bạc Liêu (do anh Đỗ Trung Hiếu nộp thay) được hoàn lại 940.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông H, tỉnh Bạc Liêu.

3. Quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP S và Anh Phạm Văn G có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

Cỡ chữ