vanban.org

Bản án 90/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 07/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Thị T phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Dương Thị T 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/3/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Thị T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Thị T phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SƠN LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2023/HS-ST.
Ngày 07-6-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cầm Xuân Thuỷ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lò Thị Quỳnh.

2. Bà Hà Thị Thanh Liêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Tố Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 95/2023/HSST ngày 16 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2023/HSST ngày 25 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Dương Thị T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 21/4/1979 tại Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT: Số X, ngõ A Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: Tổ B, phường Q, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Bị cáo con ông Dương Văn Th và bà Mã Thị Đ; Bị cáo có chồng là Hứa Lê Đ (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 30 phút, ngày 05/3/2023, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy Công an thành phố Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 03, phường Q, thành phố Sơn La đã phát hiện bắt quả tang Dương Thị T (sinh năm 1979, trú tại Số X, ngõ A, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội) đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Dương Thị T, thu giữ vật chứng, gồm: 01 gói giấy bạc, mở ra bên trong có chứa 15 viên nén đồng dạng màu hồng (Thủy tự giác lấy từ trong lòng bàn tay trái đang cầm ra giao nộp và khai nhận là ma túy Hồng phiến, cất giữ để sử dụng).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Dương Thị T khai nhận: Dương Thị T từ Hà Nội lên thành phố Sơn La làm nghề massage và có sử dụng ma túy từ cuối năm 2022, khoảng 12 giờ 10 phút ngày 05/3/2023, Thủy đi bộ từ phòng 02, tầng 03 của Khách sạn S 03 thuộc tổ 03, phường Q, thành phố Sơn La xuống khu vực bãi đất trống cạnh Khách sạn tìm mua ma túy sử dụng. Tại khu vực bãi đất trống Thủy gặp 01 người nam giới có đặc điểm cao khoảng l,65m, người gầy (Thủy không biết tên, tuổi, địa chi cụ thể). Qua nói chuyện, Thủy hỏi và mua được của người nam giới đó 15 viên Methamphetamine được gói trong 01 gói giấy bạc với số tiền 1.500.000VNĐ. T cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái và đi bộ tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực ngõ rẽ vào cầu thang phía sau của Khách sạn S 03 thì bị tổ công tác Công an Thành phố Sơn La phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Ngày 05/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Dương Thị T khi bắt quả tang, kết quả: 15 viên nén màu hồng có khối lượng 1,45 gam, lấy 04 viên nén màu hồng có khối lượng 0,40 gam làm mẫu giám định ký hiệu V. Còn lại 11 viên nén màu hồng có khối lượng 1,05 gam làm mẫu lưu kho ký hiệu H.

Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La ra Quyết định trưng cầu giám định số 47/QĐ-ĐCSKT-MT đối với mẫu gửi giám định có phải là ma túy không? Loại ma túy gì? Khối lượng của mẫu giám định là bao nhiêu? Tổng khối lượng vật chứng thu giữ?

Kết luận giám định số 526/KL-KTHS ngày 06/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu V là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,40 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,45 gam; Loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Về nguồn gốc ma tuý 1,45 gam Methamphetamine, bị cáo Dương Thị T khai mua của một người nam giới không quen biết vào ngày 05/3/2023 tại khu vực tổ 03, phường Q, thành phố Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn nguồn tài liệu chứng cứ nào khác. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La không có căn cứ để tiếp tục điều tra xác minh.

Tại bản Cáo trạng số 182/CT- VKSTP ngày 15/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Dương Thị T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Dương Thị T từ 20 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/3/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; Mẫu lưu kho ký hiệu H = 1,05 gam.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quá trình tiến hành tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Ngày 05/3/2023, Dương Thị T đã có hành vi cất giữ trái phép 1,45 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang tại khu vực tổ 03, phường Q, thành phố Sơn La. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 40 phút ngày 05/3/2023 tại tổ 03, phường Q, thành phố Sơn La đối với Dương Thị T.

- Vật chứng thu giữ của bị cáo là 01 gói giấy bạc, mở ra bên trong có chứa 15 viên nén đồng dạng màu hồng, tổng khối lượng là 1,45 gam.

- Tại Kết luận giám định số 526/KL-KTHS ngày 06/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu V là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,40 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,45 gam; Loại Methamphetamine.

- Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

Với các căn cứ chứng minh trên đã có đủ cơ sở kết luận: Dương Thị T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo đã có hành vi tàng trữ 1,45 gam Methamphetamine, đã vi phạm điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự, thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra để đảm bảo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, bố mẹ đẻ của bị cáo là ông Dương Văn Th và bà Mã Thị Đ đều được tặng thưởng Huy chương kháng chiến, do đó bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; Mẫu lưu kho ký hiệu H = 1,05 gam xét là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu, tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Dương Thị T phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Dương Thị T 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/3/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; Mẫu lưu kho ký hiệu H = 1,05 gam.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Dương Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 07/6/2023. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Sơn La;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND tỉnh Sơn La;

- VKSND thành phố Sơn La;

- Công an thành phố Sơn La;

- Chi cục THADS thành phố Sơn La;

(đã ký)

- Trại giam Công an tỉnh Sơn La;

- THAHS;

- Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;

- Bị cáo;

Cầm Xuân Thuỷ

- Lưu: Hồ sơ, án văn. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Sơn La;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND tỉnh Sơn La;

- VKSND thành phố Sơn La;

- Công an thành phố Sơn La;

- Chi cục THADS thành phố Sơn La;

- Trại giam Công an tỉnh Sơn La;

- THAHS;

- Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;

Cầm Xuân Thuỷ

- Bị cáo;

- Lưu: Hồ sơ, án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ