- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị Ngọc A - Đào Đình T"
- Tòa quyết gì? 1- Chị Vũ Thị Ngọc A được ly hôn anh Đào Đình T.
- Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2023/HNGĐ-ST Ngày 11-10-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Duy Việt
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Quyết
Bà Phạm Thị Khanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Ngọc Anh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Huy- Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 71/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2023, về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 80/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Ngọc A; ĐKHKTT: Thôn 8, ĐĐ, xã DT, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Thôn VQ, xã TL, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Đào Đình T; nơi cư trú: Thôn 8, ĐĐ, xã DT, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo chị Vũ Thị Ngọc A trình bày:
1. Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh Đào Đình T kết hôn với nhau tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã DT, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng từ ngày 24-6-2014. Quá trình chung sống của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc được 9 năm thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung, anh T không chịu làm ăn, không quan tâm vợ con. Mâu thuẫn đã được gia đình khuyên giải và bản thân chị đã cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhưng không đạt kết quả. Hiện vợ chồng đã sống ly thân. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Đào Đình T.
2. Về con chung: Chị và anh Đào Đình T có 02 con chung là Đào Thị Minh C, sinh ngày 03-12-2014 và Đào Thị Minh T1, sinh ngày 30-10-2018. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cả hai con chung Đào Thị Minh C và Đào Thị Minh T1 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chị xin tự thỏa thuận với anh T, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung: Chị Ngọc A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Ngọc A xin nhận chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Lời khai của anh Đào Đình T thống nhất với chị Vũ Thị Ngọc A về thời gian, điều kiện kết hôn, quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp. Nay chị Ngọc A có đơn ly hôn với anh, anh T không đồng ý, đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ; về con chung anh T và chị Ngọc A có 02 con chung về họ tên, tuổi như chị Ngọc A trình bày. Khi ly hôn, anh T đề nghị Tòa án giao cả 02 con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, vấn đề cấp dưỡng anh T và chị Ngọc A tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản, công nợ và các vấn đề khác, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn là chị Vũ Thị Ngọc A có đơn khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con, anh Đào Đình T là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cơ bản thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, bị đơn không đến tòa theo giấy triệu tập của Tòa án là chưa tuân thủ các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Giải quyết chị Vũ Thị Ngọc A được ly hôn anh Đào Đình T; về con chung: Giao cho chị Vũ Thị Ngọc A được nuôi dưỡng Đào Thị Minh T1, giao cho anh Đào Đình T được nuôi dưỡng con Đào Thị Minh C đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; về cấp dưỡng nuôi con chung các đương sự không yêu cầu, nên đề nghị không xét; về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên đề nghị Tòa án không xét; chị Ngọc A phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
Về việc vắng mặt của nguyên đơn chị Vũ Thị Ngọc A, bị đơn anh Đào Đình T: Chị Ngọc A, anh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 02, chị Ngọc A vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Ngọc A, anh T.
- Về yêu cầu của nguyên đơn chị Vũ Thị Ngọc A:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Ngọc A kết hôn với anh Đào Đình T trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã DT, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng ngày 24-6-2014, căn cứ vào khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống trên cơ sở lời khai của đương sự, biên bản xác minh của Tòa án thấy: Trong thời gian chung sống chị Ngọc A và anh T đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không thông cảm với nhau, vợ chồng đã ly thân nhau. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình, xác định mâu thuẫn của chị Ngọc A, anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị Ngọc A đề nghị được ly hôn anh T là có căn cứ, phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của chị Ngọc A được ly hôn anh T.
Về con chung: Chị Vũ Thị Ngọc A và anh Đào Đình T có 02 con chung là Đào Thị Minh C, sinh ngày 03-12-2014 và Đào Thị Minh T1, sinh ngày 30-10-2018; cháu Châu đã trên 07 tuổi, có đề nghị được ở với chị Ngọc A; cháu T1 còn nhỏ dưới 07 tuổi hiện đang ở với chị Ngọc A, học cùng trường mẫu giáo nơi chị Ngọc A công tác, được chị Ngọc A nuôi dạy tốt; chị Ngọc A, anh T đều có công việc và thu nhập ổn định, đảm bảo được điều kiện nuôi con. Nên căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giao cháu Đào Thị Minh T1 cho chị Ngọc A trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Đào Thị Minh C cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các cháu nên cần chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác: Các đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị Vũ Thị Ngọc A phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào quy định tại các điều 19, 51, 53, 55, 57 và Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào quy định tại Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1- Chị Vũ Thị Ngọc A được ly hôn anh Đào Đình T.
2- Về con chung: Giao cháu Đào Thị Minh T1, sinh ngày 30-10-2018 cho chị Vũ Thị Ngọc A trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; giao cháu Đào Thị Minh C, sinh ngày 03-12-2014 cho anh Đào Đình T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3- Về án phí: Chị Vũ Thị Ngọc A phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0006606 ngày 19 tháng 5 năm 2023, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, chị Ngọc A đã nộp đủ án phí.
4- Về quyền kháng cáo bản án:
Chị Vũ Thị Ngọc A, anh Đào Đình T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
5- Về quyền yêu cầu thi hành: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - VKS ND TP. Hải Phòng; - VKS ND huyện Vĩnh Bảo; - Chi cục Thi hành án huyện Vĩnh Bảo; - UBND xã DT, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Duy Việt |