- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ph T T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 90/2022/HSST Ngày: 03/6/2022. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Bé.
2. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Hoa Huệ – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2022/HSST, ngày 15 tháng 4 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2022/QĐST-HS ngày 04/5/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 112/2022/QĐST-HS ngày 20/5/2022 đối với bị cáo:
Họ tên: Ph T T; Tên gọi khác: Không.
Giới tính: Nam; Sinh năm: 1993 tại tỉnh Bình Dương.
Nơi cư trú: ấp 1, xã HP, huyện CC, thành phố Hồ Chí Minh.
Chỗ ở: ấp 1, xã HP, huyện CC, thành phố Hồ Chí Minh.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 9/12.
Nghề nghiệp: Làm thuê.
Cha: Ph T V, sinh năm 1964; Mẹ: Ng K T, sinh năm 1970.
Anh chị em ruột: hai người kể cả bị cáo.
Vợ, con: Chưa có.
Tiền sự: Tháng 5/2021 bị can bị đưa đi cai nghiện bắt buộc theo quyết định của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi tại cơ sở cai nghiện Phước Bình trong thời hạn 18 tháng. Đến ngày 20/9/2021 do ốm nặng nên được tạm đình chỉ chấp hành quyết định về địa phương.
Tiền án: Không.
Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/01/2022 đến nay.
Bị cáo có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 20/01/2022, T điều khiển xe gắn máy biển số 84S1-3732 đến khu vực đồng ruộng thuộc ấp 2A, xã TTĐ, huyện CC gặp một người thanh niên chưa rõ lai lịch mua 01 gói ma túy đá với giá 150.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu gói ma túy vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi điều khiển xe gắn máy trên đi về nhà. Khi đến đường Tỉnh lộ 15, thuộc ấp 3A, xã TTĐ, huyện Củ Chi thì bị đội Cảnh sát điều tra về ma túy Công an huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh phát hiện bắt quả tang thu giữ cùng tang vật vào lúc 14 giờ 35 phút cùng ngày.
Kết luận giám định số 830/KLGĐ-H ngày 26/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an Thành Phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3038g loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 gói niêm phong mang số vụ 830/22 có chữ ký niêm phong của Cán bộ Điều tra và giám định viên.
- 01 xe gắn máy biển số 84S1-3732, só máy: VME152FMHC073437, số khung: RMEWCHHME8A073437
(Vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng thuộc đội cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Nhà tạm giữ công an huyện Củ Chi).
Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận thực hiện hành vi như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 15/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Ph T T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ.
Vào lúc 14 giờ 35 phút ngày 20/01/2022, tại đường Tỉnh lộ 15, thuộc ấp 3A, xã TTĐ, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, Ph T T đang tàng trữ 01 gói ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3038g, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Ph T T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và trong hồ sơ vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tiền án: không; Tiền sự: có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Ph T T từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.
Đối với đối tượng (chưa rõ lai lịch) bán ma túy cho Ph T T, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi ra thông báo truy tìm đối tượng khi nào có kết quả xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 830/22 có chữ ký niêm phong của Cán bộ Điều tra và giám định viên.
- 01 xe gắn máy biển số 84S1-3732, só máy: VME152FMHC073437, số khung: RMEWCHHME8A073437 (đã trả cho chủ sở hữu).
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các chứng cứ có tại hồ sơ, kết luận giám định số 830/KLGĐ-H ngày 26/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an Thành Phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3038g loại Methamphetamine. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Ph T T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo T là người thành niên, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã bất chấp pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có một hình phạt tương xứng.
Bị cáo là người thành niên, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện. Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tiền án: không; Tiền sự: có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi lượng hình là có cơ sở chấp nhận.
Đối với đối tượng (chưa rõ lai lịch) bán ma túy cho Ph T T, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi ra thông báo truy tìm đối tượng khi nào có kết quả xử lý sau. Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) gói mang số vụ 830/22 có chữ ký niêm phong của giám định viên và điều tra viên. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe gắn máy biển số 84S1-3732, só máy: VME152FMHC073437, số khung: RMEWCHHME8A073437, đã trả cho chủ sở hữu. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 15/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Ph T T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử lý vật chứng như nhận định nêu trên, xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thượng vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Ph T T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Ph T T 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2022.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói mang số vụ 830/22 có chữ ký niêm phong của giám định viên và điều tra viên.
Vật chứng, tài sản nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số: 44/PNK ngày 16/3/2022 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. (Bút lục số 22)
- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
- Án phí HS-ST: Bị cáo Ph T T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Ph T T vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày baûn aùn ñöôïc giao hoaëc ñöôïc nieâm yeát.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Củ Chi; - Công an huyện Củ Chi; - Chi cục THADS huyện Củ Chi; - Phòng PC 27; - Bị cáo; - Lưu: Vp, hồ sơ. (18b) HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hùng Vƣơng Hội thẩm nhân dân Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |