- Tranh chấp gì? án hình sự — "giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2022/HS-ST Ngày: 06 – 4 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Hồng Chiến – Chủ tịch UBMTTQVN phường Lái Thiêu.
2. Bà Lê Thị Ngọc Giàu – Phó Bí thư đoàn phường Bình Hòa.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2022/HSST ngày 03 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình P., sinh năm 1999 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Xóm B, xã H, thị xã A, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hải Đ. và bà Đặng Thị H.; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/5/2022, đến ngày 06/4/2022 bị bắt tạm giam, có mặt.
Bị hại: Huỳnh Minh T., sinh năm 1969 (đã chết – không có vợ con).
Người đại diện hợp pháp của ông T.:
- Bà Huỳnh Thị Q, sinh năm 1953;
- Bà Nguyễn Thị H., sinh năm 1961;
- Ông Huỳnh Minh T1, sinh năm 1964;
- Ông Huỳnh Minh T2, sinh năm 1967;
Các ông bà trên cùng nơi cư trú: khu phố T, phường T, thành phố A, tỉnh Bình Dương.
- Bà Huỳnh Thị D., sinh năm 1955; nơi cư trú: D5, cư xá M, phường Y, quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Huỳnh Thị Ngọc D1, sinh năm 1970; nơi cư trú: 55/2210 khu phố C, phường T, thành phố A, tỉnh Bình Dương.
(Đều là anh chị em ruột của bị hại), có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
2.3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Huỳnh Thị U, sinh năm 1981; nơi cư trú: khu phố P, phường B, thành phố A, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Em Nguyễn Thị H., sinh ngày 29/6/2004; nơi cư trú: Thôn T, thị xã H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Người đại diện hợp pháp của em H.: Bà Nguyễn Thị N., sinh năm 1962, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 01/01/2021, Nguyễn Đình P. điều khiển xe mô tô biển số 61C1 – 089.95 chở Nguyễn Thị H. ngồi phía sau, lưu thông trên đường Đông NhĐì hướng từ ngã 5 chợ L đến ngã ba giao nhau với đường Nguyễn Văn T.. Khi đến đoạn qua nghĩa trang L thuộc khu phố Đ, phường T, thành phố A, tỉnh Bình Dương do điều khiển xe lưu thông không đúng phần đường lấn qua bên trái hướng chiều lưu thông nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 61F4 – 6912 do ông Huỳnh Minh T. đang điều khiển lưu thông đúng phần đường hướng ngược lại. Hậu quả sau tai nạn giao thông ông Huỳnh Minh T. tử vong sau cấp cứu, gia đình tự tổ chức mai táng không thông báo cho cơ quan chức năng biết, không tiến hành được hoạt động khám nghiệm tử thi.
Kết quả khám nghiệm hiện trường theo biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 01/01/2021:
Hiện trường là đoạn đường thuộc khu phố Đ, phường T, thành phố A, tỉnh Bình Dương. Đường được trải nhựa phẳng, thẳng hơi cong, rộng 14 mét có vạch sơn liền ở giữa đường chia đường thành hai chiều lưu thông. Lấy phần đường bên phải làm chuẩn hướng từ đường Nguyễn Văn T. đến ngã 5 chợ L làm chuẩn rộng 3,5 mét.
Lấy mép bên phải làm chuẩn hướng từ đường Nguyễn Văn T. về ngã 5 chợ L; Lấy cột điện số 16 nằm trên vỉa hè lề phải làm cột mốc.
Xe mô tô biển số 61C1 – 089.95 ngã nghiêng bên trái, nằm trên mặt đường, đầu xe quay về hướng đường Nguyễn Văn T., trục trước xe cách lề phải 1,5 mét và cách cột điện số 16 nằm trên vỉa hè lề phải là 4,3 mét, trục sau xe nằm tại mép đường bên phải là 1,9 mét.
Xe mô tô biển số 61C1 – 089.95 sau khi ngã để lại vết cày dài trên mặt đường là 7,1 mét; đầu vết cày cách mép đường bên phải là 2,9 mét; cuối vết cày nằm ở gác chân trước bên trái xe mô tô.
Xe mô tô biển số 61F4 – 6912 ngã nghiêng bên trái nằm trên mặt đường, đầu xe quay xéo về lề đường bên phải chếch về hướng ngã 5 chợ L. Trục bánh trước của xe mô tô cách mép đường bên phải là 2,1 mét; Trục bánh sau của xe mô tô cách mép đường bên phải là 3,3 mét.
Xe mô tô biển số 61F4 – 6912 sau khi ngã để lại vết cày dài trên mặt đường là 6,7 mét; đầu vết cày cách mép đường bên phải là 3,2 mét và cách đầu vết cày xe mô tô biển số 61C1 – 089.95 là 3,8 mét, cuối vết cày nằm ở gác chân trước bên phải của xe mô tô.
Vết máu kích thước (2,5x0,2) có tâm vết máu cách mép đường bên phải là 3,4 mét và cách trục bánh sau của xe mô tô là 1,1 mét.
Kết quả khám nghiệm phương tiện theo biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 02/01/2021:
Xe mô tô biển số 61C1 – 089.95: Đầu nhựa tay cầm bên trái, mép ngoài bửng chắn gió bên trái bị trầy xước mài mòn. Mép ngoài gác nhựa để chân bên trái, mép ngoài gác để chân sau bên trái bị trầy xước. Mép ngoài tay nắm đuôi sau xe bên trái bị trầy xước, mài mòn.
Xe mô tô biển số 61F4 – 6912: Phía trên mũi nhựa dè chắn bùn bị trầy xước, trốc sơn. Vỡ gương chiếu hậu trước bên phải. Trầy xước mặt ngoài chụp đèn chiếu sáng, đèn xi nhan, ốp nhựa bên trái phía trước đầu xe. Gác để chân trước bên phải cong về sau. Đầu nhựa tay cầm trái bị trầy xước. Đầu nhựa gác để chân trước bên trái bị trầy xước, mài mòn.
Bản kết luận nguyên nhân tử vong nạn nhân Huỳnh Minh T. qua hồ sơ bệnh án kết luận: Huỳnh Minh T. bị tổn thương não mức độ nặng, chết não lâm sàng dẫn đến tử vong.
Bản kết luận giám định ngày 31/3/2021 kết luận:
Dấu vết va chạm giữa hai phương tiện là: Dấu vết trượt bám dính chất màu đen (dạng cao su) và chất màu trắng (dạng bột nhựa) ở mặt trước ngoài ống xả xe mô tô biển số 61C1 – 089.95, có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết cong, trượt xước cao su ở đầu ngoài gác chân trước bên phải và trượt xước nhựa màu trắng ở mặt trước bửng xe mô tô biển số 61F4 – 6912, co chiều từ trước về sau.
Cơ chế hình thành dấu vết là: Các bộ phận bên phải xe mô tô biển số 61C1 – 089.95 va chạm vào các bộ phận bên phải xe mô tô biển số 61F4 – 6912 làm hai xe mô tô đổ ngã sang trái, va chạm với mặt đường ở hiện trường tạo ra dấu vết trên hai phương tiện.
Căn cứ vào vị trí, chiều hướng các dấu vết ở hiện trường vụ tai nạn giao thông thì vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường là khu vực mặt đường giữa hai đầu vết cày kí hiệu số 2 và số 3 trên sơ đồ hiện trường.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 61F4 – 6912; 01 xe mô tô biển số 61C1 – 089.95.
Cáo trạng số: 74/CT-VKS-TA ngày 26/02/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Đình P. về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng tại điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình P. mức hình phạt từ 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù đến 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù.
+ Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Đối với xe mô tô biển số 61F4-6912, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của ông Huỳnh Minh T., Cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện gia đình là bà bà Huỳnh Thị X. (là chị ruột của ông Huỳnh Minh T.).
- Đối với xe mô tô biển số 61C1-089.95, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của bà Huỳnh Thị U. Qua làm việc bà U khai nhận đã bán chiếc xe này cho Nguyễn Đình P. với giá 10.000.000 đồng vào năm 2019 nhưng hai bên không làm hợp đồng sang tên, bà Út không có yêu cầu gì đối với chiếc xe này nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho Nguyễn Đình P. là có căn cứ.
+ Về trách nhiệm dân sự: Bị can Nguyễn Đình P. đã tự nguyện hỗ trợ chi phí mai táng cho gia đình nạn nhân Huỳnh Minh T. số tiền 50.000.000 đồng, gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm.
+ Đối với Nguyễn Thị H. là người ngồi phía sau xe mô tô biển số 61C1-089.95 do Nguyễn Đình P. điều khiển gây tai nạn, H. bị té ngã và gãy chân phải. Quá trình làm việc Hường khai nhận vết thương đã lành không ảnh hưởng đến sức khỏe nên yêu cầu từ chối giám định thương tích, bị cáo P. đã hỗ trợ chi phí điều trị thương tích cho H. là 40.000.000 đồng, H. không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với bị can P..
- Bị cáo Nguyễn Đình P. khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của Bản kết luận điều tra và Cáo trạng. Thống nhất với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 01/01/2021, tuy không có giấy phép lái xe nhưng Nguyễn Đình P. vẫn điều khiển xe mô tô biển số 61C1 – 089.95 chở Nguyễn Thị H. ngồi phía sau, lưu thông trên đường Đông Nhì hướng từ ngã 5 chợ L đến ngã ba giao nhau với đường Nguyễn Văn T.. Khi đến đoạn qua nghĩa trang Lái Thiêu thuộc khu phố Đ, phường T, thành phố A, tỉnh Bình Dương do điều khiển xe lưu thông không đúng phần đường, lấn qua bên trái làn đường nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 61F4 – 6912 do ông Huỳnh Minh T. đang điều khiển lưu thông đúng phần đường theo hướng ngược lại. Hậu quả sau tai nạn giao thông ông Huỳnh Minh T. tử vong sau khi được đưa đi cấp cứu.
Bị cáo điều khiển phương tiện giao thông đường bộ khi không có giấy phép lái xe, quá trình lưu thông không đúng phần đường của mình, vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 8 và Điều 9 Luật giao thông đường bộ, hậu quả là xảy ra va chạm làm chết người. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động tham gia giao thông bình thường của người khác. Bị cáo thực hiện hành vi vi phạm Luật giao thông đường bộ với lỗi vô ý vì cẩu thả, bị cáo đã nhìn thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm đến cho người khác, nhưng bị cáo cho rằng hậu quả đó không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hiện nay, tình trạng tai nạn giao thông trên địa bàn thành phố Thuận An, có xu hướng tăng cao, thường xuyên xảy ra tình trạng phóng nhanh, vượt ẩu thiếu quan sát, không đảm bảo điều kiện an toàn dẫn đến tai nạn giao thông xảy ra hàng ngày, hậu quả là thiệt hại về tính mạng con người, gây đau thương, mất mát cho gia đình bị hại. Do đó cần có mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Đối với xe mô tô biển số 61F4-6912, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của ông Huỳnh Minh T., Cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện gia đình là bà bà Huỳnh Thị X. (là chị ruột của ông Huỳnh Minh T.) là phù hợp.
- Đối với xe mô tô biển số 61C1-089.95, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của bà Huỳnh Thị U. Qua làm việc bà U khai nhận đã bán chiếc xe này cho Nguyễn Đình P. với giá 10.000.000 đồng vào năm 2019 nhưng hai bên không làm hợp đồng sang tên, bà Út không có yêu cầu gì đối với chiếc xe này nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho Nguyễn Đình P. là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị can Nguyễn Đình P. đã tự nguyện hỗ trợ chi phí mai táng cho gia đình nạn nhân Huỳnh Minh T. số tiền 50.000.000 đồng và hỗ trợ chi phí điều trị thương tích cho em Nguyễn Thị H. số tiền 40.000.000 đồng, không ai có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Các Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình P. phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình P. 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2022.
2. Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Đình P. phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND TP.Thuận An; - Chi cục THADS TP.Thuận An; - Công an TP.Thuận An; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Quang Ngọc Nhân |