- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn M - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1. Tuyên bố bị cáo Lương Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2022/HS-ST Ngày 27-4-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Trung và bà Nguyễn Thị Mai Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Cường Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 27/4/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2022/TLST- HS ngày 29/3/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2022/QĐXXST- HS ngày 13/4/2022, đối với bị cáo:
Lương Văn M, sinh năm 1997;
HKTT: Bản S, xã Minh Long, huyện H, tỉnh C; chỗ ở: Khu L, P. V, TP. B, tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 07/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T, sinh năm 1975 và bà Nông Thị H, sinh năm 1979; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2021 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh B; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 30 phút ngày 17/12/2021, tại Khu L, P. Vân D, TP. B, tỉnh B, tổ công tác Công an P. Vân D, TP. Bắc Ninh bắt quả tang Lương Văn M có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nông Văn T, sinh năm 1991, HKTT: Thôn H, xã Văn Thi, huyện H, tỉnh L với số tiền 400.000 đồng để kiếm lợi nhuận.
Vật chứng thu giữ, gồm: Thu giữ trong túi quần bên trái phía trước Thi đang mặc 02 gói gồm 01 gói được bọc ngoài bằng giấy bạc màu vàng, 01 gói được bọc ngoài bằng giấy bạc màu xanh, mở ra bên trong 02 gói này có chất bột màu trắng. Tổ công tác cho vào bì thư niêm phong có chữ ký của M và những người làm chứng, ký hiệu M1.
Thu tại túi áo khoác phía trong bên trái M đang mặc 02 tờ tiền đều có mệnh giá 200.000 đồng là tiền M bán ma túy cho Thi có số seri lần lượt là SP 19103473 và NB 14950583. Tổ công tác cho vào bì thư niêm phong có chữ ký của M và những người làm chứng, ký hiệu M2.
Tại Kết luận giám định số: 40/KLGĐMT-PC09 ngày 20/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
“Chất bột màu trắng bên trong hộp giấy ký hiệu M1 có khối lượng là 0,076 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine;
02 tờ tiền đều có mệnh giá 200.000 đồng có số seri lần lượt là SP 19103473 và NB 14950583 là tiền thật”.
*. Tại cáo trạng số 41/CT-VKSTPBN ngày 29/3/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Lương Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
*. Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
*. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Luận tội và đề nghị như sau:
- Tuyên bố bị cáo M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo M từ 26 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, được tính từ ngày 18/12/2021.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định theo kết luận giám định số 40/KLGĐMT-PC09 ngày 20/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh;
Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 400.000 đồng thu giữ của bị cáo
*. Sau khi nghe bản luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận và bào chữa, mà thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là đúng như bản luận tội đã nêu.
Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1. Nhận thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Lương Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của người làm chứng, biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng đã được thu hồi, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để xác định: Hồi 17 giờ 30 phút ngày 17/12/2021, tại Khu L, P. Vân D, TP. Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an P. Vân D, TP. Bắc Ninh bắt quả tang Lương Văn M có hành vi bán trái phép 0,076 gam chất ma túy Heroine cho Nông Văn T với số tiền 400.000 đồng để kiếm lợi nhuận. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện để nhằm mục đích hưởng lợi, chứng tỏ bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật. Khi thực hiện tội phạm, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố]
2. Về nhân thân, tính chất, mức độ của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Xét thấy, dù bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào, nhưng tính chất và mức độ tội phạm của bị cáo gây ra là nguy hại lớn cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, gây bức xúc, phẫn nộ và hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải có mức hình phạt thật nghiêm tương ứng, cho bị cáo cách ly xã hội một thời gian, để có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng, răn đe phòng ngừa chung, không tạo ra tiền lệ xấu, ngăn chặn sự gia tăng loại tội phạm nguy hiểm này và góp phần làm trong sạch, lành mạnh đời sống xã hội và niềm tin vào pháp luật của nhân dân.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.]
[3. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự thì còn có thể phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có, nghề nghiệp, thu nhập và người dân tộc thiểu số, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.]
[4. Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, xét thấy số vật chứng, là:
4.1. 01 phong bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định theo kết luận giám định số 40/KLGĐMT-PC09 ngày 20/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;
4.2. Số tiền 400.000 đồng đã thu giữ của bị cáo là do phạm tội mà có (số tiền mua bán ma túy) nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.]
[5. Về các vấn đề khác:
5.1. Đối với người đàn ông bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo nhưng bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này và không nhận dạng được. Do vậy, Công an thành phố Bắc Ninh đã tiến hành xác minh nhưng chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau. Do đó, không đề cập xem xét.
5.2. Đối với Nông Văn T là người mua ma túy của M để sử dụng, do khối lượng ma túy chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Thi chưa có tiền án, tiền sự, hiện tại không có mặt tại địa phương, chưa xác định được Thi ở đâu, làm gì. Do vậy, Công an thành phố Bắc Ninh chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau. Do đó, không đề cập xem xét.]
[6. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.]
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 329 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
1.1. Tuyên bố bị cáo Lương Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1.2. Xử phạt bị cáo Lương Văn M 26 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, được tính từ ngày 18/12/2021.
Tiếp tục tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, để đảm bảo việc thi hành án.
2. Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
2.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định theo kết luận giám định số 40/KLGĐMT-PC09 ngày 20/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh;
2.2. Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 400.000 đồng thu giữ của bị cáo;
Toàn bộ vật chứng nêu trên được mô tả theo đúng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và cùng cấp; - Cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp; - CQĐT cùng cấp; - Bị cáo và người TGTT khác (nếu có); - Lưu hồ sơ vụ án HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyến Văn Tuyến THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyến Văn Tuyến |