- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sồng A Xa phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sồng A X phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2022/HS-ST. Ngày: 26 - 8 - 2022. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Quách Công Cầm
Ông Mùi Văn Huấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Bàn Văn Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hương Mạnh – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 92/2022/TLST - ST ngày 29 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2022/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:
Sồng A X; tên gọi khác: Không, sinh năm 1979, sinh tại huyện V, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản Ch, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sồng A Th, sinh năm 1955 và bà Vàng Thị S, sinh năm 1959; bị cáo có vợ là Giàng Thị M, sinh năm 1978 và 03 con; con lớn sinh năm 2002; con nhỏ sinh năm 2009; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 167/2011/HSST ngày 27/6/2011 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p, q khoản 1 Điều 46; Điều 53Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Sồng A X 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Sồng A X chấp hành xong bản án vào ngày 08/6/2013.
- Ngày 28/11/2016 bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong ngày 17/10/2018.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 20/04/2022 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 20/4/2022, Sồng A X, sinh năm: 1979, trú tại: Bản Ch, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La một mình đi bộ đến ăn đám cưới tại gia đình ông Sồng A T, sinh năm: 1967 (là chú của X) ở khu vực Bản Ch, xã V, huyện V. Tại đám cưới, X gặp một người đàn ông tự giới thiệu tên là Chư, nhà ở huyện Mộc Châu. Qua trao đổi, Xa hỏi và xin được của Chư 01 gói Heroine mục đích để sử dụng. Sau đó, X cất giấu gói ma túy trong túi áo khoác bên phải phía trước đang mặc trên người rồi đi về nhà. Khoảng 21 giờ cùng ngày, X đi bộ đến đường dân sinh của Bản Ch, xã V, huyện V thì bị tổ công tác Công an xã V, huyện V yêu cầu tiến hành kiểm tra. Quá trình làm việc với tổ công tác, X tự giác lấy từ túi áo khoác phía trước bên phải và giao nộp: 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng chất bột màu nghi là Heroine. Căn cứ vào hành vi vi phạm, vật chứng thu giữ Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng đồng thời dẫn giải Sồng A X về trụ sở Công an huyện V để điều tra làm rõ.
Ngày 21/4/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã phối hợp với VKSND huyện V và phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành cân tịnh xác định khối lượng vật chứng nghi là ma túy thu giữ khi bắt quả tang Sồng A X: Chất bột màu trắng nghi là Heroine được 0,14 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu “X”. Mẫu giám định “X” được bàn giao lại cho Giám định viên của phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy.
Tại kết luận giám định số 706 ngày 22/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu giám định ký hiệu X là ma túy, loại Heroine, khối lượng của các mẫu gửi giám định là 0,14 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,14 gam Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định: Chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định, ký hiệu X không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng là 0,08 gam”.
Cáo trạng số: 67/CT-VKS ngày 29/07/2022 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Sồng A X về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố Sồng A X phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Sồng A X mức án từ 19 (Mười chín) tháng tù đến 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong mẫu gửi giám định + 02 túi nilon bên trong đựng 0,08 gam Heroine; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ gói niêm phong; 01phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đã qua sử dụng.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì khác.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng múc án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Lời khai của người chứng kiến, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ; thể hiện: Ngày 20/04/2022, Sồng A X có hành vi tàng trữ trái phép 0,14 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Sồng A X phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội; bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn không đoạn tuyệt với ma túy. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng mức án nghiêm khắc tương sứng với hành vi phạm tội và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
- Bị cáo Sồng A X đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong mẫu gửi giám định + 02 túi nilon bên trong đựng 0,08 gam Heroine; 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ gói niêm phong; 01phong bì đã niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đã qua sử dụng là vật cấm lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc chất ma túy: Đối với người đàn dân tộc Mông, tên Chư, cho Xa ma túy vào ngày 20/4/2022. Quá trình điều tra, Sồng A X khai không biết họ tên, địa chỉ cụ thể. Do vậy, cơ quan CSĐT Công an huyện V không có căn cứ điều tra xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự:
2. Tuyên bố bị cáo Sồng A X phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Sồng A X 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/04/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mẫu gửi giám định + 02 túi nilon bên trong đựng 0,08 gam Heroine; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ gói niêm phong; 01phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 89/BBVC-CCTHA ngày 01/08/2022.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Toà án ND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an; - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Sở Tư pháp; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hiếu |