- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn N - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn N 15 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 90/2022/HS-ST Ngày 30-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Xuân Chung
2. Ông Nguyễn Q Chỉnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Tùng- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27 tháng 12 và 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 86/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Hoàng Văn N, sinh năm 1996 tại xã D, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Nơi cư trú: Thôn K, xã D, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Y (đã chết) và bà Ma Thị A; có vợ, 01 con; tiền án, tiền sự: Chưa; hiện tại ngoại (có mặt).
- Bị hại: Anh Phùng Văn Đ, sinh năm 1974 (đã chết)
Địa chỉ: Thôn M, xã S, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Ông Phùng Văn E, sinh năm 1942 (có mặt)
+ Bà Vũ Thị F, sinh năm 1946 (vắng mặt)
+ Chị Giáp Thị P, sinh năm 1977 (vắng mặt)
+ Anh Phùng Văn Q, sinh năm 1997 (có mặt)
+ Chị Phùng Thị G, sinh ngày 10/01/2004 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn M, xã S, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lý Văn B, sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn Thượng Lâm, xã D, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Văn N, sinh năm 1996 ở thôn K, xã D, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang có giấy phép lái xe hạng A1. Tháng 6 năm 2022, Hoàng Văn N xuống làm bốc xếp vải thuê tại xã Hộ Đáp, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang cùng anh Lý Xuân Z, sinh năm 1992 và anh Lý Văn B, sinh năm 1994, cùng trú tại thôn Thượng Lâm, xã D, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 28/6/2022, N điều khiển xe mô tô biển số 12H1-460.46, nhãn hiệu Honda Wave mượn của anh Lý Văn B chở Z phía sau đi từ xã Hộ Đáp, huyện Lục Ngạn theo hướng huyện Lục Nam rồi rẽ vào đường Tỉnh lộ 293 để về thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh để thăm vợ. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi đi đến Km15 + 750 đường Tỉnh lộ 293 thuộc thôn M, xã S, huyện Lục Nam, N khai điều khiển xe mô tô đi với tốc độ khoảng 50 km/h và đi ở phía bên phải đường theo chiều đi. N quan sát thấy phía trước cách khoảng 10m có anh Phùng Văn Đ, sinh năm 1974, trú tại thôn M, xã S, huyện Lục Nam đang đi bộ qua đường (hướng từ trái sang phải theo hướng Lục Nam đi thành phố Bắc Giang). Khi anh Đ đi đến phần giữa đường, do không làm chủ được tốc độ, không chú ý quan sát nên N đã để mặt ngoài cánh yếm bên trái xe mô tô biển số 12H1-460.46 do N điều khiển va chạm vào người anh Phùng Văn Đ, khiến anh Đ, anh Z ngã ra đường, còn xe mô tô do N điều khiển đi tiếp khoảng 10m thì dừng lại. Hậu quả anh Phùng Văn Đ bị chết cùng ngày.
Ngay sau khi xảy ra vụ việc, Đội CA sát giao thông Công an huyện Lục Nam đã Q hành khám nghiệm hiện trường, tạm giữ: 01 xe mô tô biển số 12H1-460.46, sau đó bàn giao hồ sơ cho Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 01/7/2022, Hoàng Văn N giao nộp: 01 giấy phép lái xe số 250158001842 mang tên Hoàng Văn N.
Khám nghiệm hiện trường: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông thuộc Km 15+750, đường Tỉnh lộ 293 thuộc thôn M, xã S, huyện Lục Nam. Mặt đường được trải bê tông rộng 11 mét.
Xác định mép đường bên phải hướng Lục Nam đi Bắc Giang làm mép chuẩn. Xác định cột Km số H7/15, đặt mép đường bên trái hướng Lục Nam đi Bắc Giang làm mốc chuẩn.
Các dấu vết ghi nhận tại hiện trường: Tại hiện trường phát hiện 01 đám máu trên mặt đường Tỉnh lộ 293 Lục Nam- Bắc Giang, kích thước (23x13)cm được ký hiệu “M”. Tâm đám máu “M” cách mép chuẩn là 2,45m; cách mốc chuẩn là 73,3m; cách trục bánh phía sau xe mô tô 12H1-460.46 là 14,8m.
Tại hiện trường phát hiện xe mô tô biển số 12H1- 460.46 dựng chân chống đỗ tại hiện trường, trục bánh trước xe mô tô quay hướng đi Bắc Giang, trục bánh sau xe mô tô quay hướng đi Lục Nam. Trục bánh trước xe mô tô cách mép chuẩn là 3,25m; cách mốc chuẩn là 57,5m; trục bánh sau xe mô tô cách mép chuẩn 3,8m; cách mốc chuẩn 58,6m; cách tâm đám máu loang là 14,8m.
Kết quả dựng lại hiện trường: Ngày 05/8/2022, Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam Q hành dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông. Kết quả dựng lại hiện trường phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường do Đội CA sát giao thông Công an huyện Lục Nam lập ngày 28/6/2022. Mở rộng hiện trường về phía hướng huyện Lục Nam xác định bên phải đường Tỉnh lộ 293 theo hướng dựng lại hiện trường xác định lối đi bê tông rộng 3m, vị trí tiếp giáp lối đi với mép đường bên phải theo hướng dựng lại hiện trường rộng 10,1m. Điểm giao nhau giữa lối đi bê tông với mép đường bên phải theo hướng dựng lại hiện trường, điểm gần nhất cách tâm vết máu “M” (Ký hiệu 1) là 15m về phía đi thành phố Bắc Giang.
Tại nền đất bên phải theo hướng dựng lại hiện trường cắm 01 biển báo hiệu nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên ký hiệu W.207a, cách vị trí giao nhau giữa lối đi bê tông vào thôn M với mép đường bên phải hướng dựng lại hiện trường, điểm gần nhất cách 161,25m.
Tại vị trí đối diện lối đi bê tông đi vào thôn M qua đường Tỉnh lộ 293 có 01 lối đi đường đất ra cánh đồng thôn M rộng 2,6m.
Khám nghiệm tử thi anh Phùng Văn Đ: Các dấu vết tổn thương trên cơ thể:
Vùng đầu: Tóc đen cắt trọc, vùng thái dương đỉnh hai bên có vết phẫu thuật được khâu bằng 44 mũi chỉ dài 30cm. Hai mắt khép kín, đồng tử hai bên giãn to, hai lỗ mũi có máu khô; Vùng ngực trái có diện bầm tím da, kích thước (12x2,5)cm; Mặt sau ngoài khuỷu tay, 1/3 trên cánh tay trái có diện sây sát da, kích thước (10x2x2)cm; Mặt sau vai phải có vết sây sát da, kích thước (1,5x0,5)cm; Vùng thắt lưng có diện sây sát da, kích thước (12,5x7)cm; Đùi, cẳng chân phải có diện bầm tím da, kích thước (39x12)cm; Chân phải có diện sây sát da, kích thước (3,5x8)cm; Lỗ mũi, tai phải có máu chảy từ trong ra khi thay đổi tư thế; Vùng đỉnh phải có vết rạch dẫn lưu dịch được khâu bằng 02 mũi chỉ; Mặt trước 1/3 giữa cánh tay phải có vết đặt truyền dịch được khâu bằng 02 mũi chỉ; Mặt trong cổ chân, 1/3 dưới cẳng chân trái có diện bầm tím da kích thước (8x3)cm.
Mổ tử thi: Chọc hút bằng bơm kim tiêm hai bên khoang lồng ngực có ít dịch bọt; Kiểm tra vết phẫu thuật vùng đầu thấy: mép vết thương không đều, xung quanh còn chảy dịch màu đỏ; Kiểm tra diện F xương hộp sọ vùng thái dương trán hai bên thấy, kích thước (12,5x9,5)cm (BL 55-56).
Khám nghiệm phương tiện: Xe mô tô biển số 12H1-460.46
Phần nhựa bên dưới đèn xi nhan phía trước bên trái bị vỡ F nhựa, kích thước (5,5x3)cm. Điểm gần nhất cách chân gương chiếu hậu bên trái là 15cm; Cụm đèn chiếu sáng phía trước trong trạng thái bị bung bật khỏi vị trí cố định ban đầu; Mặt ngoài cánh yếm phía trước bên trái bị bật chốt khỏi vị trí cố định ban đầu theo hướng từ trước về sau trên diện, kích thước (15x2)cm; Tại vị trí mặt ngoài phía trước cánh yếm bên trái có dấu vết in hằn, mất bụi chiều hướng từ trước về sau trên diện, kích thước (8x3)cm; Mặt trong giảm sóc trước bên trái có dấu vết trượt, mất bụi chiều hướng từ trước về sau trên diện, kích thước (5,5x2)cm, tịa vị trí cách đất là 36cm.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định cơ chế hình thành dấu vết trên phương tiện và hiện trường, xác định vị trí va chạm, xác định tốc độ của phương tiện ngay trước khi tai nạn xảy ra. Tại bản kết luận giám định cơ chế hình thành dấu vết số 1409/KL-KTHS ngày 16/8/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận: Dấu vết mài trượt mất bụi tạo thành các đường thẳng song song (dạng vân vải) tại mặt ngoài cánh yếm bên trái của xe mô tô biển số 12H1-460.46 được hình thành do va chạm với vật có bề mặt là vải sợi (như cơ thể người mặc quần áo) tạo nên. Không đủ căn cứ khoa học để xác định vị trí va chạm trên mặt đường; Các dấu vết khác trên xe mô tô biển số 12H1-460.46 (được thể hiện trong biên bản khám nghiệm phương tiện) không đủ yếu tố giám định; Không đủ căn cứ để xác định tốc độ của xe mô tô biển số 12H1-460.46 tại thời điểm xảy ra va chạm qua dấu vết cơ học.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định xác định nguyên nhân chết của ông Phùng Văn Đ. Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 1292/KL-KTHS ngày 29/7/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận: Nguyên nhân chết của Phùng Văn Đ do chấn thương sọ não.
Quá trình giải quyết, Cơ quan điều tra đã thu giữ và niêm phong 01 đĩa DVD- Maxcell lưu trữ file video có tên “D3120220628195359”, đuôi file “MP4”, dung lượng 77,5 MB trong dữ liệu camera an ninh của Công an xã S, huyện Lục Nam. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định video trên. Tại kết luận giám định số 1483/KL-KTHS ngày 26/8/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình A trong file video có tên “D31_20220628195359.mp4”; dung lượng: 77,5 MB; thời lượng: 06 phút 02 giây được lưu trữ trong các đĩa DVD-R gửi giám định; Tại thời gian 19 giờ 57 phút 03 giây (thời gian thể hiện trên khung hình) không quan sát thấy vị trí va chạm giữa xe mô tô và cơ thể người đi bộ thuộc phần đường nào trên mặt đường, do vị trí va chạm bị che khuất, thời điểm ghi hình vào lúc trời tối không rõ mặt đường; Trích xuất được 09 hình A thể hiện diễn biến sự việc có trong các file video gửi giám định.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, N cùng gia đình đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình nạn nhân số tiền 150.000.000 đồng. Đại diện gia đình nạn nhân đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Hoàng Văn N.
Về vật chứng gồm: 01 xe mô tô biển số 12H1- 460.46; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Hoàng Văn N, Cơ quan điều tra chuyển xử lý cùng vụ án.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Văn N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.
Bản cáo trạng số: 82/CT-VKS ngày 22/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố các bị cáo Hoàng Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam trình bày lời luận tội, phân tích hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề N Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điều luật và xử phạt đối với bị cáo như sau:
- Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Hoàng Văn N từ 12 tháng đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã D giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại anh Lý Văn B 01 xe mô tô biển số 12H1- 460.46; trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Hoàng Văn N.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo; đại diện hợp pháp của người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan Q hành tố tụng, người Q hành tố tụng. Tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại không có khiếu nại gì. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Q hành tố tụng, người Q hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 28/6/2022, Hoàng Văn N có giấy phép lái xe hạng A1 điều khiển xe mô tô biển số 12H1-460.46 đi trên đường Tỉnh lộ 293 hướng Lục Nam đi thành phố Bắc Giang. Khi đi đến Km 15+750, đường Tỉnh lộ 293 thuộc địa phận thôn M, xã S, huyện Lục Nam do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ và không nhường đường cho người đi bộ qua đường nên đã để mặt ngoài cánh yếm bên trái xe mô tô biển số 12H1- 460.46 do N điều khiển va chạm vào người anh Phùng Văn Đ đang sang đường. Hậu quả làm anh Đ bị tử vong do chấn thương sọ não.
. Hành vi của bị cáo Hoàng Văn N đã vi phạm vào khoản 1, Điều 9; khoản 4, Điều 11; Điều 12 Luật giao thông đường bộ, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng, tài sản của người khác. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; đại diện cho bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiêt giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.
. Từ những phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi gây tại nạn, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 150.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên không đặt ra xem xét.
. Về vật chứng: 01 xe mô tô Honda Wave, biển số 12H1- 460.46, bị cáo mượn của anh Lý Văn B nên cần trả lại cho anh B. 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Hoàng Văn N của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
. Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn Cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn N 15 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật thi hành án hình sự.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại anh Lý Văn B 01 xe mô tô biển số 12H1- 460.46. Trả lại bị cáo Hoàng Văn N 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Hoàng Văn N.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; N quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Báo cho bị cáo; đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt biết, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND tỉnh; - VKSND huyện Lục Nam; - Công an huyện Lục Nam; - Chi cục THADS huyện Lục Nam; - Sở tư pháp tỉnh; - UBND xã D, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang; - Lưu hồ sơ, v/p. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Huân |