vanban.org

Bản án 90/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn S.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Võ Văn S được ly hôn với bà Đỗ Thị N. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có và không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn S.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15-12-2022
“V/v Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo Ngoan

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lữ Khắc Hồi

2. Ông Nguyễn Văn Triệu

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hậu

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 15 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2021/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022, về việc “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2022/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Võ Văn S, năm sinh 1985.

Địa chỉ: ấp N, xã H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1987.

Địa chỉ: ấp N, xã H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Võ Văn Sự trình bày và yêu cầu như sau:

Ông Võ Văn S và bà Đỗ Thị N được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã h, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh vào năm 2019 theo giấy Chứng nhận kết hôn số 06/2019 ngày 28/01/2019. Trong quá trình chung sống nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc, giữa nguyên đơn và bà N xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải vã, bất đồng nhiều quan điểm trong cuộc sống. Nhận thấy cuộc hôn nhân không thể cứu vãn, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bà Đỗ Thị N.

- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Đỗ Thị N đều vắng mặt các lần triệu tập của Tòa án, tuy nhiên tại bản tự khai và đơn xin giải quyết vắng mặt đề ngày 02/12/2022 bà N có lời trình bày như sau: Bà thống nhất với toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Võ Văn S và xin được giải quyết vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[[1] Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng nguyên đơn và bị đơn đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhận thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn ông Võ Văn S và bị đơn bà Đỗ Thị N xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh vào năm 2019 theo giấy Chứng nhận kết hôn số 06/2019 ngày 28/01/2019 nên quan hệ hôn nhân giữa ông Võ Văn S và bà Đỗ Thị N là hợp pháp.

Nguyên đơn ông Võ Văn S trình bày rằng trong thời kỳ hôn nhân giữa ông với bà N thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên giữa vợ chồng ông bà phát sinh mâu thuẫn dẫn đến sống ly thân từ tháng 6/2020 cho đến nay không thể hàn gắn được. Hội đồng xét xử thấy căn cứ vào lời khai của ông Võ Văn S cùng với việc trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà Đỗ Thị N để hòa giải nhằm làm rõ mâu thuẫn giữa hai bên để tìm giải pháp cho hai bên thỏa thuận, đoàn tụ với nhau nhưng bà N vắng mặt, như vậy chứng tỏ bà Đỗ Thị N không có ý chí muốn đoàn tụ với ông S. Ngoài ra, trong thời gian sống ly thân hai bên đương sự không tạo điều kiện cho nhau để cải thiện quan hệ vợ chồng, khắc phục sai lầm, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, bà N cũng có văn bản thể hiện thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn S. Vậy nên, Hội đồng xét xử nhận thấy sự việc mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Võ Văn S và bị đơn bà Đỗ Thị N đã trở nên trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu nhưng không thể hàn gắn tình cảm nên việc ông Võ Văn S yêu cầu ly hôn với bà Đỗ Thị N là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Nguyên đơn khai không có và không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung: Nguyên đơn khai không có và không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

Về nợ chung: Nguyên đơn khai không có và không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, nguyên đơn có nghĩa vụ chịu án phí là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 28; Điều 35; Điều 91, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn S.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Võ Văn S được ly hôn với bà Đỗ Thị N.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có và không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn ông Võ Văn S phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0012141 ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành nên không phải nộp thêm.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thì được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, phải thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ