vanban.org

Bản án 90/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Tuyên án 28/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chât ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN MƯỜNG TÈ
TỈNH LAI CHÂU
———
Bản án số: 90/2021/HSST
Ngày: 28/09/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thị The; Ông Pờ Pó Chừ

Thư ký phiên toà: Bà Lâm Thị Tuyết, Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường tè, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên toà: Ông Lương Gia Khánh, kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2021/HSST, ngày 08 tháng 9 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2021/QĐXXST –HS, ngày 13 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Lù Văn K - Tên gọi khác: không; Sinh năm:1970; sinh tại: xã B, huyện Mư, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú: Bản N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lù Văn P - đã chết; Con bà: Pờ Thị Ch - đã chết; Bị cáo có vợ: Lý Thị L - Sinh năm: 1971; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/6/2021 đến ngày 11/6/2021 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

1. Vàng Văn Ngh - sinh năm: 1988; Trú tại: Bản N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu - Vắng mặt.

2. Lù Văn L - Sinh năm: 1999; Trú tại: Bản N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ 00 phút ngày 02/6/2021, Lù Văn K, trú tại bản N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu, đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông (K không biết tên) lên khu vực bản Pa Mu, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn tỉnh Lai Châu với mục đích đi tìm mua ma túy. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, K đến khu vực bản Pa Mu, K xuống xe, đi bộ vào trong bản Pa Mu, trên đường đi, K gặp một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 70 tuổi, gặp người này, K trao đổi hỏi mua ma túy, qua trao đổi, K đã mua được của người phụ nữ này 05 gói Heroine, đều được gói bằng mảnh ni lon màu trắng với số tiền là 500.000 đồng. Mua được Heroine, K đi ra đường và đi nhờ xe về nhà. Về đến nhà, thấy không có ai ở nhà, K lấy 01 gói Heroine trong 05 gói Heroine mua được để sử dụng ( hít), 04 gói còn lại K cho vào 01 lọ nhựa màu đỏ, có in chữ Coca - cola có nắp vặn, rồi cất giấu dưới gầm bàn uống nước nhà K. Đến 21 giờ cùng ngày, khi K đang ở nhà thì có Lù Văn L, sinh năm 1991 là người cùng bản với K đến chơi. Sau đó khoảng 05 phút sau có Vàng Văn Ngh, sinh năm 1988, trú tại: bản N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu đến nhà K hỏi mua Heroine với K, Ngh hỏi " Anh có Heroine không? Bán cho em 100.000 đồng", K đáp" có", sau đó K lấy lọ nhựa trong gầm bàn ra, mở nắp lấy ra 01 gói Heroine đưa cho Ngh, Ngh nhận gói Heroine của K đưa cho vào trong túi quần Ngh đang mặc, rồi lấy ra 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, K nhận tờ tiền đặt trên bàn uống nước, cất lọ nhựa chứa 03 gói Heroine còn lại dưới gầm bàn uống nước chỗ K ngồi thì bị Công an xã Bum Nưa phát hiện, bắt quả tang thu giữ của Lù Văn K 03 gói bột khô vón cục màu trắng, 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 100.000 đồng; thu giữ của Vàng Văn Ngh 01 gói bột khô, vón cục, màu trắng.

Qua xác định khối lượng và giám định chất ma túy, đã xác định 03 gói chất bột khô, vón cục, màu trắng thu giữ của Lù Văn K có khối lượng là: Gói 1: 0,05 gam; Gói 2: 0,06 gam; Gói 3: 0,05 gam và 01 gói bột khô, vón cục, màu trắng thu giữ của Vàng văn Ngh có khối lượng là 0,05 gam.

Tại bản Kết luận giám định số: 415/GĐ–KTHS, ngày 10/6/2021 của Ph ng k thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận 01 mẫu bột khô, vón cục, màu trắng thu giữ của Vàng Văn Ngh gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine;

Tại bản Kết luận giám định số: 419/GĐ–KTHS, ngày 11/6/2021 của Ph ng k thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận 03 gói mẫu bột khô, vón cục, màu trắng thu giữ của Lù Văn K gửi đến giám định đều là ma túy, loại Heroine.

Tại bản Kết luận giám định số: 414/GĐ–KTHS, ngày 08/6/2021 của Ph ng k thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận 01 tờ tiền Việt Nam đồng, mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) có mẫu số hiệu QR 18092340 gửi giám định, là tiền thật.

Tại Cáo trạng số: 64/CT- VKS– MT, ngày 08 tháng 9 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đã truy tố bị cáo Lù Văn K về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 251 BLHS.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lù Văn K phạm tội "Mua trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, Điều 50; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Lù Văn K từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.

Về hình phạt bổ sung đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, vì bị cáo là người nghiện, không có điều kiện thi hành.

Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu sung công qu Nhà nước 01 tờ tiền Việt Nam đồng đang lưu hành có mệnh giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng). Tịch thu tiêu hủy gồm: 04 mảnh ni lon màu trắng còn lại sau khi cân xác định khối lượng vật chứng và 01 lọ nhựa màu đỏ có in chữ Coca cola, có nắp vặn màu trắng.

Về án phí hình sự sơ thẩm đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Lù Văn K khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan Điều tra; bị cáo nhất trí luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố, trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên t a, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[ 2 ] Về hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Vì muốn có ma túy để sử dụng và bán kiếm lời, khoảng 06 giờ ngày 02/6/2021, Lù Văn K đã đi lên khu vực bản Pa Mu, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu tìm mua Heroine. Khi đến bản Pa Mu, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu, tại đây Lù Văn K đã mua được 05 gói Heroine của một người phụ nữ dân tộc Mông, khoảng 70 tuổi với số tiền là 500.000 đồng. Mua được Heroine K đem về nhà lấy 01 gói Heroine ra sử dụng, 04 gói còn lại K cất giấu trong một chiếc lọ nhựa giấu dưới bàn uống nước nhà K. Đến khoảng 21 giờ ngày 02/6/2021 có Vàng Văn Ngh, trú tại bản N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu đến nhà K hỏi mua Heroine, K đồng ý, Ngh đưa cho K 100.000 đồng, K cầm tiền để trên bàn uống nước, đồng thời lấy lọ nhựa dưới gầm bàn, lấy ra 01 gói Heroine đưa cho Ngh, Ngh cầm gói Heroine cho vào trong túi quần, thì bị tổ công tác công an huyện Mường Tè và Công an xã Bum Nưa phát hiện thu giữ của Ngh 01 gói Heroine, có khối lượng 0,05 gam, thu giữ của K 03 gói Heroine c n lại có tổng khối lượng 0,16 gam và 01 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 100.000 đồng, do bán Heroine cho Ngh mà có.

Như vậy, hành vi bán trái phép 0,05 gam Heroine của Lù Văn K cho Vàng Văn Ngh, đã phạm vào tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 64/CT - VKS - MT, ngày 08 tháng 9 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố đối với Lù Văn K về tội "Mua bán trái phép chất ma túy”' theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[ 3 ] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc mua Heroine sau đó bán cho người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do muốn có tiền, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

[ 4 ] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân, bị cáo Lù Văn K có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo là người nghiện chất ma túy, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Năm 2017 bị cáo đã được đưa đi tập trung cai nghiện chất ma túy.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cần được xem xét áp dụng cho bị cáo; Bị cáo có bố là Ông Lù Văn P (P) là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất; bị cáo là người dân tộc thiểu số, có trình độ học vấn thấp, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, hiểu biết pháp luật c n có phần hạn chế nhất định, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo.

[ 5 ] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa, xét thấy, bị cáo Lù Văn K là người nghiện chất ma túy, nghề nghiệp trồng trọt, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Trong vụ án này, còn có Vàng Văn Ngh là người mua 0,05 gam Heroine với K, nhưng căn cứ vào khối lượng và mục đích mua Heroine của nghiệp để sử dung, không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Vàng Văn Ngh, do vậy cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính đối với nghiệp là đúng quy định pháp luật. Ngoài ra theo lời khai của Lù Văn K, số Heroine mà K có được là do K mua của một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 70, tại khu vực bản Pa Mu, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu, nhưng K không biết rõ lai lịch của người này, nên không có cơ sở để điều tra xử lý được đối với người này. Đối với Lù Văn L là người đến chơi nhà K, không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy giữa Kẻo và Nghiệp, nên không xử lý đối với L là hoàn toàn đúng pháp luật.

[ 6 ] Về vật chứng: Đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ, đây là tiền do phạm tội mà có cần phải tịch thu sung công qu Nhà nước. Đối với 04 mảnh ni lon màu trắng c n lại sau khi cân xác định khối lượng chất ma túy và 01 lọ nhựa màu đỏ có in chữ Coca Cola có nắp vặn màu trắng, đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội cần phải tịch thu tiêu hủy.

[ 7 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về án phí, lệ phí. Buộc bị cáo Lù Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, xét thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, Hội đồng xét xử cần phải chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về án phí, lệ phí.

1. Tuyên bố bị cáo Lù Văn K phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Lù Văn K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 09 ngày, kể từ 23 giờ 30 phút ngày 02/6/2021 đến 23 giờ 30 phút ngày 11/6/2021.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung công qu Nhà nước 01 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 100.000 đồng ( một trăm nghìn đồng).

- Tịch thu tiêu hủy gồm: 04 mảnh ni lon màu trắng còn lại sau khi cân xác định khối lượng chất ma túy và 01 lọ nhựa màu đỏ có in chữ Coca Cola có nắp vặn màu trắng.

Toàn bộ vật chứng trên hiện đang được thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường tè, tỉnh Lai Châu, theo biên bản giao nhận vật chứng số 81, ngày 08/9/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Lù Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, có mặt bị cáo, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ