- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng Gi cùng đồng phạm phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng Gi, Vũ Đức Kh1, Nguyễn Văn Th1, Phan Thanh H3 và Nguyễn Văn H1 phạm tội "Đánh bạc".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2021/HS-ST Ngày 14/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H3 XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Văn Dũng.
2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 80/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2021/QÐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2021/HSST-QĐ ngày 25/11/2021; Thông báo mở lại phiên tòa số 13/2021/TB-TA ngày 06/12/2021 đối với:
- Các bị cáo:
1. Nguyễn Trọng Gi, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn B, xã Th, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng N và bà Nguyễn Hoài Ph; có vợ là Phạm Thị Thu Kh và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: Ngày 30/01/2019, Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; tiền sự: Không; tạm giữ ngày 09/9/2021, tạm giam ngày 18/9/2021. Có mặt.
2. Vũ Đức Kh1, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn B, xã Th, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đức C và bà Nguyễn Thị H; có vợ Nguyễn Thị H1 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 21/6/2006, Công an huyện Kim bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000đồng về hành vi "Gây rối trật tự công cộng" (Đã nộp phạt). Tạm giữ ngày 09/9/2021. Áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 17/9/2019. Có mặt.
3. Nguyễn Văn Th1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn B, xã Th, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ch (Đã chết) và bà Vũ Thị D; có vợ Lại Thị L và 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không. Tạm giữ ngày 09/9/2021. Áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 17/9/2021. Có mặt.
4. Nguyễn Văn H1, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ 3, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn: Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H2 và bà Nguyễn Thị Ph; có vợ Nguyễn Thị Th và 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không. Tạm giữ ngày 09/9/2021. Áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 17/9/2021. Có mặt.
5. Phan Thanh H3, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn B, xã Th, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Ngọc Th1 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Th2 (Đã chết); có vợ Trần Thị Th3 và 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không. Tạm giữ ngày 09/9/2021. Áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 17/9/2021. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 09/9/2021, Nguyễn Trọng Gi, sinh năm 1985; Vũ Đức Kh1, sinh năm 1983; Nguyễn Văn Th1, sinh năm 1985 đều trú tại thôn B, xã Th, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam và Nguyễn Văn H1, sinh năm 1992, nơi cư trú: Tổ 3, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam cùng ngồi chơi, uống nước tại phòng khách nhà Nguyễn Trọng Gi. Trong khi đang ngồi uống nước có người nói: “Anh em làm tí Liêng cho vui”, tất cả mọi người đều đồng ý và đi xuống phòng bếp nhà Gi ngồi xuống chiếu nhựa trải sẵn. Do không có tiền chơi đánh bạc, Gi vay H1 số tiền 1.500.000đồng, sau đó lấy 1.000.000đồng vừa vay đưa cho Th1 vay để đánh bạc. Sau đó, Gi lấy một bộ bài tú lơ khơ 52 quân từ A đến K ở góc nhà để xuống chiếu cùng Kh1, Th1, H1 đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức “Liêng”, cách thức cụ Th1 như sau: Chia mỗi người 03 lá bài, sau đó mỗi người chơi bỏ ra giữa chiếu số tiền là 20.000đồng gọi là góp gà. Sau khi người chơi lên bài người được chia bài tố trước, ai theo tố thì lần lượt tố từ pH1 qua trái nếu ai theo người tố trước hoặc tố cao hơn người tố trước thì bỏ tiền vào giữa chiếu. Tiền tố thấp nhất là 20.000đồng và một ván được tố cao nhất là 200.000đồng, khi không còn ai tố sẽ ngả bài để so bài ai có bài cao nhất được thu tiền gà và tiền tố, ai được “Sáp”, “Liêng đồng chất” thu thêm mỗi người chơi 100.000đồng. Quy định sáp là to nhất, đến “Liêng” đến tính điểm và 9 điểm là cao nhất, 0 điểm là thấp nhất, nếu bài giống nhau thì tính chất; 03 quân bài giống nhau là “Sáp” (5, 5, 5); 03 quân bài liền kề nhau là “Liêng” (2, 3, 4). Cách tính điểm: Quân bài từ 10, J, Q, K tính là 0 điểm, A là 1 điểm, 2 là 2 điểm, tương tự đến 9 là 9 điểm; chất “Rô” là to nhất sau đến “Cơ” đến “Tép” và cuối cùng là chất “Bích”. Sáp to nhất là “A,A,A” thấp nhất là “2,2,2”; Liêng to nhất là “Q,K,A” thấp nhất là “A, 2,3”. Chơi được khoảng 30 phút thì Phan Thanh H3, sinh năm 1989 ở thôn B, xã Th, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đến cùng ngồi xuống chiếu tham gia đánh bạc với Gi, Kh1, Th1 và H1. Khoảng 17 giờ cùng ngày thì Công an huyện Kim Bảng phát hiện, bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 chiếu nhựa KT (1,6x1,8)m có các hình kẻ ca ro màu xanh, vàng, trắng, số tiền 8.120.000đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá bài từ A đến K và 01 chiếc ví giả da màu đen của Nguyễn Văn H1 bên trong có số tiền 500.000đồng. Thu trong túi quần dài phía trước bên phải của Phan Thanh H3 số tiền 1.700.000đồng. Thu trong túi quần đùi phía trước bên phải của Nguyễn Văn Th1 số tiền 850.000đồng. Tổng số tiền thu giữ và được xác định dùng vào mục đích đánh bạc là 11.170.000đồng.
Cáo trạng số 88/CT-VKS ngày 03 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Trọng Gi, Vũ Đức Kh, Nguyễn Văn Th1, Phan Thanh H3 và Nguyễn Văn H1 đã phạm tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng Gi, Vũ Đức Kh1, Nguyễn Văn Th1, Phan Thanh H3 và Nguyễn Văn H1 về tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng Gi từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/9/2021.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Vũ Đức Kh1 từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50; điểm i, điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn Th1 từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50; điểm i, điểm s, điểm p khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phan Thanh H3 từ 08 đến 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 đến 20 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H1 số tiền 30.000.000đồng đến 40.000.000đồng.
Giao bị cáo Vũ Đức Kh1, Nguyễn Văn Th1, Phan Thanh H3 cho Ủy ban nhân dân xã Th, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ; 01 chiếc chiếu nhựa KT (1,6x1,8)m và 01 ví giả da màu đen. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 11.170.000đồng. Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí và quyền kháng cáo. Các bị cáo nhất trí với với cáo trạng, luận tội của Viện kiểm sát, không tranh luận gì. Các bị cáo cùng đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Trọng Gi, Vũ Đức Kh1, Nguyễn Văn Th1, Nguyễn Văn H1, Phan Thanh H3 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội phù hợp với nhau, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng cùng toàn bộ các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên toà. Tòa án có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 09/9/2021, Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam bắt quả tang Nguyễn Trọng Gi, Vũ Đức Kh1, Nguyễn Văn Th1, Phan Thanh H3 và Nguyễn Văn H1 đang đánh bạc trái phép được, thua bằng tiền dưới hình thức chơi "Liêng" bằng bộ bài tú lơ khơ 52 lá bài tại phòng bếp nhà của Nguyễn Trọng Gi ở thôn B, xã Th, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc 11.170.000đồng. Hành vi đó của Nguyễn Trọng Gi, Vũ Đức Kh1, Nguyễn Văn Th1, Phan Thanh H3 và Nguyễn Văn H1 đã phạm tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng. Hành vi chơi được, thua bằng tiền dưới hình thức đánh liêng với tổng số tiền 11.170.000đồng mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép là vi phạm pháp luật. Xét về mặt chủ quan tội phạm, các bị cáo thực hiện do lỗi cố ý. Động cơ phạm tội là tư lợi, sát phạt nhau. Hành vi của các bị cáo đánh bạc nhằm tước đoạt tiền bạc, tài sản của nhau.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy, bị cáo Nguyễn Trọng Gi là chủ nhà và lấy bộ bài tú lơ khơ nên giữ vai trò chính, các bị cáo Kh1, Th1, H1, H3 giữ vai trò đồng phạm.
Về t×nh tiÕt giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Kh1, Th1, H3, H1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H3 là người khuyết tật nặng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo Gi, Kh1 có thời gian tham gia quân đội, bị cáo H1 có ông nội, ông ngoại là người có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo Nguyễn Trọng Gi phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Kh1, Th1, H3 và H1 không pH1 chịu nên khi quyết định hình phạt Tòa án xét tính chất, mức độ tham gia của từng người, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để cách ly bị cáo Gi ra khỏi xã hội một thời gian; bị cáo Kh1, Th1, H3 cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, bị cáo H1 có điều kiện thi hành hình phạt tiền là hình phạt chính như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thấy, các bị cáo cơ bản là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Gồm 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân, 01 chiếu nhựa KT (1,6x1,8)m là công cụ phạm tội và 01 ví giả da màu đen thu giữ của bị cáo H1, tại phiên tòa bị cáo H1 đề nghị không nhận lại chiếc ví vì đã cũ, vật không có giá trị nên tịch thu, tiêu hủy. Đối với số tiền 11.170.000đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331; 332; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng Gi, Vũ Đức Kh1, Nguyễn Văn Th1, Phan Thanh H3 và Nguyễn Văn H1 phạm tội "Đánh bạc".
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Gi 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/9/2021.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Đức Kh1 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th1 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám), kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50; điểm i điểm s điểm p khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Thanh H3 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50; điểm i điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 số tiền 40.000.000đồng.
Giao bị cáo Vũ Đức Kh1, Nguyễn Văn Th1, Phan Thanh H3 cho Ủy ban nhân dân xã Th, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có Th1 quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự 2019.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân từ A đến K, mặt sau có hoa văn trắng, vàng, xanh; 01 chiếc chiếu nhựa KT(1,6x1,8)m có các kẻ caro màu xanh, vàng, trắng và 01 ví giả da màu đen đã qua sử dụng. Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 11.170.000đồng (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng như biên bản bàn giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh Hà Nam và Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Bảng và Ủy nhiệm chi ngày 04/11/2021).
3. Án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Nguyễn Trọng Gi, Vũ Đức Kh1, Nguyễn Văn Th1, Phan Thanh Ḥ3 và Nguyễn Văn H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH1 thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam (để b/c); - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Kim Bảng; - Công an tỉnh Hà Nam; - Trại tạm giam CA tỉnh Hà Nam; - Chi cục T.H.A dân sự huyện Kim Bảng; - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Nguyệt |