- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T phạm tội vi phạm quy định về giao thông đường bộ; - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG —————————— Bản án số: 90/2021/HS-ST Ngày 08- 4- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Quân;
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Văn Nhung;
2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng An, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2021 tại Hội trường A, Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2021/HSST ngày 24 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2021, đối với bị cáo:
Lê Văn T (tên gọi khác L), sinh năm 1979 tại tỉnh Bến Tre; thường trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn V, sinh năm 1947 và bà Nguyễn Thị A, sinh năm: 1945; có vợ Điểu Thị R, sinh năm 1977 (là bị hại chết trong vụ án), có 02 con, lớn sinh năm: 2001, nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Chị Điểu Thị R(chết); đại diện hợp pháp của bị hại:
Chị Lê Thị Ngọc H, sinh năm: 2001; trú tại: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước; có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Mai Văn T, sinh năm 1979; trú tại: Thôn P, xã L, huyện T, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 15/08/2020, Lê Văn T điều khiển xe mô tô hiệu Sirius, biển số 93P1-872.04 phía sau chở vợ là chị Điểu Thị R, lưu thông trên đường ĐT743A theo hướng ngã ba Ông Xã về hướng ngã tư Bình Thung, khi đến ngã ba giao nhau với đường Lê Hồng Phong (ngã ba Cây Điệp) thuộc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì có 01 xe ô tô tải không rõ biển số đang đậu cùng chiều phía trước bên lề phải trên làn đường xe mô tô. Thấy vậy, T điều khiển xe lách tránh xe ô tô tải đang đậu phía trước chuyển hướng rẽ trái ra làn đường xe ô tô, cùng lúc này xe ô tô đầu kéo, biển số 89C-134.20 kéo theo Rơ moóc, biển số 89R-002.19 do anh Mai Văn T điều khiển lưu thông cùng chiều, trên làn đường xe ô tô chạy đến, phần đầu cản trước bên phải xe ô tô đầu kéo, biển số 89C-134.20 va chạm vào hông bên trái xe mô tô hiệu Sirius, biển số 93P1-872.04 của anh Lê Văn T điều khiển. Sau va chạm xe mô tô, biển số 93P1-872.04 nằm ngã nghiêng bên phải trước đầu xe ô tô đầu kéo, biển số 89C-134.20, bánh trước bên phải xe ô tô đầu kéo chèn lên vùng hông bên phải của chị R. Lúc này anh T điều khiển xe đầu kéo lui về phía sau rồi cùng Lê Văn T đưa chị R đi cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy.
Hậu quả: Vụ tai nạn giao thông làm chị Điểu Thị R bị thương nặng, được cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy đến khoảng 01 giờ ngày 16/08/2020 thì tử vong.
- Biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện:
Hiện trường đoạn đường xảy ra tai nạn: Đoạn đường ngã ba giao nhau đoạn đường cong hướng từ ngã ba Ông Xã về ngã tư Bình Thung, mặt đường rải nhựa, bằng phẳng, có đèn tín hiệu giao thông, tầm nhìn không có vật che khuất.
- Vị trí phương tiện, vật chứng, dấu vết:
+ Xe ô tô đầu kéo, biển số 89C-134.20 kéo Rơ mooc, biển số 89R-002.19 (kí hiệu 01) sau tai nạn đầu xe hướng cong phải về ngã tư Bình Thung, đuôi xe hướng cong trái về ngã ba Ông Xã. Trục bánh xe trước bên phải đầu kéo cách mép chuẩn 5m30, trục bánh xe sau bên phải đầu kéo cách mép chuẩn 5m10, trục bánh xe trước bên trái đầu kéo cách góc ngã ba (kí hiệu 7) kích thước 7m70. Trục bánh xe sau cùng bên phải Rơ mooc cách mép chuẩn là 4m60, cách trụ đèn tín hiệu giao thông (kí hiệu 8) là 13m.
+ Xe mô tô biển số 93P1-872.04 sau tai nạn nằm ngả nghiêng bên phải, trước đầu xe (kí hiệu 1). Bánh xe trước hướng thẳng về mép lề đường ĐT743A theo hướng từ ngã tư Bình Thung về ngã ba Ông Xã, bánh xe sau hướng thẳng về mép chuẩn. Trục bánh xe trước cách mép chuẩn là 7m10, trục bánh xe sau cách mép chuẩn là 5m90, cách trục bánh xe trước bên phải đầu kéo (kí hiệu 1) là 2m50.
+ Vết máu nạn nhân (kí hiệu 3) sau tai nạn để lại tâm vết máu trước xe ô tô đầu kéo (kí hiệu 1), cách mép chuẩn là 5m40, cách trục bánh xe sau (kí hiệu 2) là 0m90.
+ Vết chà người (kí hiệu 4) sau tai nạn để lại đầu vết chà dưới gầm xe ô tô đầu kéo (kí hiệu 1) hướng thẳng về ngã ba Ông Xã, cách mép chuẩn là 5m80. Đuôi vết chà hướng thẳng về ngã tư Bình Thung cách mép chuẩn là 5m40, cách tâm vết máu (kí hiệu 3) là 0m20, vết chà người dài 4m80.
+ Vết cày xe mô tô biển số 93P1-872.04 (kí hiệu 5) sau tai nạn để lại đầu vết cày dưới gầm xe ô tô đầu kéo (kí hiệu 1), hướng thẳng về ngã ba Ông Xã, cách mép chuẩn là 5m80.
+ Vết phanh xe mô tô biển số 93P1-872.04 (kí hiệu 6) sau tai nạn để lại đầu vết phanh dưới gầm xe đầu kéo (kí hiệu 1), hướng thẳng về ngã ba Ông Xã cách mép chuẩn là 5m80. Đuôi vết phanh nằm dưới gầm xe ô tô đầu kéo (kí hiệu 1) cách mép chuẩn là 5m80, cách đầu vết cày (kí hiệu 5) là 0m50, vết phanh dài 1m40.
Theo Bản Kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 511/2020/GĐPY ngày 29/10/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương ghi nhận nguyên nhân tử vong của chị Điểu Thị R:
- Các dấu hiệu chính:
+ Hậu phẫu ngày 1 sau đa chấn thương vùng bẹn.
+ Bệnh nhân hôn mê, thở bóp bóng qua nội khí quản.
+ Mạch 160 lần/phút. Huyết áp 80/60 mmHg. Có lúc huyết áp tụt, khó đo.
+ Mất hết phản xạ.
+ Đồng tử 2 mắt 4mm, phản xạ ánh sáng yếu.
+ Rối loạn đông máu. Tắc hoàn toàn động mạch chậu ngoài phải. Động mạch thận tạng, động mạch gan, lách và động mạch thận hai bên khẩu kính nhỏ, khả năng co thắt mạch máu. Khí tự do ổ bụng.
+ Gãy mõm ngang L1, L2, L4 hai bên và mõm ngang L3 bên trái. Gãy xương cùng. Gãy xương mu, xương ngồi hai bên và xương cánh chậu trái.
+ Tiên lượng có thể tử vong. Bệnh nặng, gia đình xin đem về lúc 02 giờ ngày 16/08/2020 và đã chết tại nhà.
- Nguyễn nhân tử vong: Căn cứ trên hồ sơ, cho phép nhận định:
Nạn nhân Điểu Thị R bị đa chấn thương vùng bẹn – chậu mức độ nặng, có dấu hiệu shock, rối loạn đông máu, gây suy hô hấp, suy tuần hoàn không hồi phục dẫn đến tử vong.
Về xử lý vật chứng: Phương tiện liên quan trong vụ tai nạn đã được trả lại cho các bên liên quan.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Mai Văn T lái xe tải đã hỗ trợ cho gia đình bị hại tổng số tiền 150.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 76/CT-VKS ngày 23 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố D An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Văn T về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.
Đề nghị: Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận bồi thường xong, gia đình bị hại không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.
Trước khi hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi ngh a vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Lê Văn T điều khiển xe mô tô hiệu Sirius, biển số 93P1-872.04 lưu thông chuyển hướng thiếu chú ý quan sát gây trở ngại cho người và phương tiện khác, vi phạm vào khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ, lỗi chính gây tai nạn giao thông dẫn đến chị Điểu Thị R tử vong. Hành vi của Lê Văn T đủ yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ bản kết luận giám định pháp y tử thi số 511/2020/GĐPY ngày 29/10/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương ghi nhận nguyên nhân tử vong của chị Điểu Thị R: Nạn nhân Điểu Thị R bị đa chấn thương vùng bẹn – chậu mức độ nặng, có dấu hiệu “shock”, rối loạn đông máu, gây suy hô hấp, suy tuần hoàn không hồi phục dẫn đến tử vong.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người đại diện hợp pháp bị hại, người có quyền lợi ngh a vụ liên quan đến vụ án trong quá trình điều tra và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, Cáo trạng số 76/QĐ-KSĐT ngày 23 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố D An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Lê Văn T về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện rất nghiêm trọng đã phạm vào tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, còn gây ảnh hưởng xấu, tạo tâm lý lo sợ cho những người điều khiển phương tiện giao thông lưu thông trên đường. Hiện nay, tình hình vi phạm Luật giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố D diễn ra rất phức tạp, gây ảnh hưởng xấu, tạo tâm lý lo sợ cho những người điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm với mức hình phạt tương xứng tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải; đại diện bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.
Về trách nhiệm dân sự và vật chứng:
Về xử lý vật chứng: Phương tiện liên quan trong vụ tai nạn đã được trả lại cho các bên liên quan.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Mai Văn T lái xe tải đã hỗ trợ cho gia đình bị hại tổng số tiền 150.000.000 đồng.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là chưa phù hợp; Hội đồng xét xử xét bị cáo, có hoàn cảnh khó khăn, vợ là bị hại trong vụ án bị chết, phải nuôi hai con đang đi học và có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự; Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 5 Điều 3 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; có căn cứ xét bị cáo được hưởng án treo theo quy định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 260; Điều 65; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 5 Điều 3 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 08/4/2021).
Giao bị cáo Lê Văn T cho UBND xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước, tỉnh Bình Phước giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Lê Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi Hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm ngh a vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự;
Bị cáo, đại diện bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi ngh a vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, được quyền kháng có trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND tp D; - Công an tp D; - Chi cục THA dân sự tp D; - TAND tỉnh BD; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; ĐD bị hại; người liên quan; - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Ngọc Quân |