vanban.org

Bản án 90/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Chị Dương Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1;

2- Về con chung: Giao cho chị Dương Thị H được nuôi dưỡng con chung Nguyễn Gia M, sinh ngày 19-11-2009 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị H - Nguyễn Văn H1"
  • Tòa quyết gì? 1- Chị Dương Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1;
  • Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2021/HNGĐ-ST
Ngày 18-11-2021
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Duy Việt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Quyết

Bà Nguyễn Thị Tâm.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Ngọc Anh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 183/2021/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2021, về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dương Thị H; ĐKHKTT: Thôn NT, xã TH, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số nhà 10/132 tổ 14 phường LH, quận KA, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H1; ĐKHTT: Thôn NT, xã TH, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, chị Dương Thị H trình bày:

1. Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh Nguyễn Văn H1 kết hôn với nhau tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã TH, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng ngày 10 tháng 02 năm 2009. Quá trình chung sống của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc được khoảng 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra xô sát, anh H1 mải chơi, không quan tâm vợ con, không chịu làm ăn. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên khuyên giải nhưng không đạt kết quả, vợ chồng sống ly thân nhau. Hiện chị H sinh sống ở quận KA, thành phố Hải Phòng còn anh H1 đang bị tạm giam để điều tra về hành vi Trộm cắp tài sản tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Dương Thị H đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn H1.

2. Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn H1 có 01 con chung là Nguyễn Gia M, sinh ngày 19-11-2009. Khi ly hôn, chị H đề nghị Tòa án giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chị xin tự thỏa thuận với anh H1, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Lời khai của anh Nguyễn Văn H1 thống nhất với chị Dương Thị H về thời gian, điều kiện kết hôn, quá trình chung sống vợ chồng không có phát sinh mâu thuẫn. Nay chị H có đơn ly hôn với anh, anh H1 thấy vợ chồng vẫn còn tình cảm, nên không đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của chị H; về con chung anh H1 và chị H có 01 con chung về họ tên, tuổi như chị H trình bày, anh H1 đề nghị giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con; về tài sản, công nợ và các vấn đề khác, anh H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn là chị Dương Thị H có đơn khởi kiện về việc ly hôn, anh Nguyễn Văn H1 là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã cơ bản thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: giải quyết chị Dương Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1; về con chung: Giao cho chị Dương Thị H được nuôi dưỡng con chung Nguyễn Gia Minh đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; về cấp dưỡng nuôi con chung các đương sự không yêu cầu, nên đề nghị không xét; về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên đề nghị Tòa án không xét; chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc ly hôn, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt của nguyên đơn chị Dương Thị H, bị đơn anh Nguyễn Văn H1: Chị H, anh H1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 01, chị H, anh H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh H1.

- Về yêu cầu của nguyên đơn chị Dương Thị H:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị H kết hôn với anh Nguyễn Văn H1 trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã TH, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng ngày 10 tháng 02 năm 2009, căn cứ vào khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống trên cơ sở lời khai của đương sự, biên bản xác minh của Tòa án thấy: Trong thời gian chung sống chị H và anh H1 đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không thông cảm, tin tưởng nhau, anh H1 chơi bời ít quan tâm đến gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình, xác định mâu thuẫn của chị H, anh H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị H xin ly hôn anh H1 là có căn cứ, phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của chị H được ly hôn anh H1.

Về con chung: Chị Dương Thị H và anh Nguyễn Văn H1 có 01 con chung là Nguyễn Gia M, sinh ngày 19-11-2009. Xét con chung của chị H, anh H1 là cháu Nguyễn Gia M đã trên 07 tuổi, hiện đang ở với chị H, có đề nghị được ở với chị H, được chị H nuôi dạy tốt, chị H có công viêc và thu nhập ổn định, đảm bảo được điều kiện nuôi con, chị H, anh H1 thống nhất giao con chung cho chị H nuôi dưỡng. Nên căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của chị H, anh H1 về việc giao cháu Nguyễn Gia M cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Dương Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác: Các đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Chị Dương Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào quy định tại các điều 19, 51, 53, 56, 57 và Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào quy định tại Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1- Chị Dương Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1;

2- Về con chung: Giao cho chị Dương Thị H được nuôi dưỡng con chung Nguyễn Gia M, sinh ngày 19-11-2009 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3- Về án phí: Chị Dương Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0017687 ngày 01 tháng 9 năm 2021, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, chị H đã nộp đủ án phí.

4- Về quyền kháng cáo bản án:

Chị Dương Thị H, anh Nguyễn Văn H1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ