vanban.org

Bản án 90/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2019. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 90/2020/HS-ST
Ngày 14-4-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Ngọc Công.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Ngọc Diệp;

2. Bà Nguyễn Hồng Gấm.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2020/QĐXX-HS ngày 06 tháng 3 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 49/2020/HSST-QĐ ngày 18 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh năm 1987 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số 3/68 đường Ng X, khu phố Qu Th, phường B Th, thành phố D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Lê Văn M, sinh năm 1959 và bà Trần Ngọc T, sinh năm 1964; bị cáo có 02 anh em ruột, lớn sinh năm 1984, nhỏ sinh 1997; bị cáo có vợ Phan Thị Kim Ch, sinh năm 1994; có 02 con ruột, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2017; tiền án: Ngày 25/4/2006, bị Tòa án nhân dân thành phố B H, tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 235/2006/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/3/2011, chưa bồi thường trách nhiệm dân sự; tiền sự: Ngày 17/4/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã D A, (nay là thành phố D A), tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định số: 14/2017/QĐ-TA, chấp hành xong Quyết định ngày 09/01/2018; Nhân thân: Ngày 15/8/2016 bị Chủ tịch UBND phường A B, thị xã D A (nay là thành phố D A), tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 164/QĐ-UBND; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/11/2019 cho đến nay; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Phạm Quốc H, sinh năm 1984; thường trú: Số 39A/12 khu phố Qu Th, phường B Th, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Minh Thanh H, sinh năm 1997; thường trú: Đội H, ấp V D 1, xã Gi K, huyện Th N, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người chứng kiến:

1. Ông Trần Dân Thiên Ch, sinh năm 1971; vắng mặt.

2. Ông Đặng Tứ Ph, sinh năm 1979; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 14/11/2019, Công an phường B Th kết hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã D A (nay là thành phố D A), tỉnh Bình Dương tuần tra trên địa bàn phường B Th. Khi tổ tuần tra đi đến đoạn đường DT743 thuộc khu phố Ng Th, phường B Th, thành phố D A, tỉnh Bình Dương thì phát hiện Lê Văn T đang điều khiển xe mô tô biển số 60B7-535.20 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra lực lượng Công an thu giữ 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng trong bàn tay trái của T, T khai nhận là ma túy nên Công an tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang cùng vật chứng.

Tại cơ quan Công an, T khai nhận 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng là ma túy do T mua của 01 người thanh niên tên T1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực chợ Đ, thành phố B H, tỉnh Đồng Nai với giá 250.000 đồng để sử dụng.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nilon hàn kín chứa tinh thể màu trắng và 01 (một) xe mô tô hiệu Suzuki màu đen, biển số 60B7-535.20.

Căn cứ Kết luận giám định số: 849/MT-PC09 ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi đến giám đinh là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3125 gam.

Quá trình điều bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì các Kết luận giám định số: 849/MT-PC09 ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.

Đối với 01 người thanh niên tên Tèo bán ma túy cho Lê Văn T tại khu vực chợ Đ, thành phố B H, tỉnh Đồng Nai, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Cáo trạng số: 118/CT-VKS-DA ngày 20 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

* Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) bì thư niêm phong bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng sau giám định 0,2646 gam là vật cấm lưu thông nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Suzuki màu đen, biển số 60B7-535.20, số khung: 11ANJV108228, số máy: CGA1508123. Quá trình điều tra xác định ông Nguyễn Minh Thanh H là người đứng tên chủ sở hữu, ông H khai nhận ngày 14/11/2019 ông H cho ông Phạm Quốc H mượn để đi công việc. Sau đó ông H cho bị cáo T mượn để đi công việc, không biết T sử dụng làm phương tiện để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dương đã trả lại xe trên cho Nguyễn Minh Thanh H.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, do bị cáo vắng mặt nên không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt và xử lý vật chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Đối với bị cáo Lê Văn T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị cáo là đúng theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người chứng kiến; biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và các chứng cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 14/11/2019, tại đoạn đường DT743 thuộc khu phố Ng Th, phường B Th, thị xã D A (nay là thành phố D A), tỉnh Bình Dương. Công an phường B Th kết hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương phát hiện Lê Văn T đang điều khiển xe mô tô biển số 60B7-535.20 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra lực lượng Công an thu giữ 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng trong bàn tay trái của Tiến, Tiến khai nhận là ma túy nên Công an tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang cùng vật chứng.

Căn cứ Kết luận giám định số: 849/MT-PC09 ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi đến giám đinh là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3125 gam.

Như vậy, hành vi trên đây của bị cáo Lê Văn T tàng trữ ma túy có khối lượng 0,3125 gam, loại Methamphetamine, mục đích tàng trữ để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Cáo trạng số: 118/CT-VKS - DA ngày 20 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Để có ma túy sử dụng mà bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích”, chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội mới do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu thể hiện bị cáo có tiền án về tội Cố ý gây thương tích, tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, ma túy là tiền đề của các tội trộm cắp, cướp giật, giết người và nhiều tội phạm khác đồng thời bị cáo là người có nhân thân xấu và người nghiện ma túy. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Xét 01 (một) bì thư niêm phong bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng sau giám định 0,2646 gam là vật cấm lưu thông nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Suzuki màu đen, biển số 60B7-535.20, số khung: 11ANJV108228, số máy: CGA1508123. Quá trình điều tra xác định ông Nguyễn Minh Thanh H là người đứng tên chủ sở hữu, ông H khai nhận ngày 14/11/2019 ông H cho ông Phạm Quốc H mượn để đi công việc. Sau đó H cho bị cáo T mượn để đi công việc, không biết T sử dụng làm phương tiện để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dương đã trả lại xe trên cho Nguyễn Minh Thanh H nên không đặt ra xem xét.

Đối với 01 người thanh niên tên T1 bán ma túy cho Lê Văn T tại khu vực chợ Đ, thành phố B H, tỉnh Đồng Nai, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là đúng theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư niêm phong bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng sau giám định 0,2646 gam.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/02/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ