vanban.org

Bản án 90/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tăng Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

Về con chung; tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Chị N, anh H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Tăng Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGA-HUÂN LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Tăng Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TAND HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2020/HNGĐ-ST
Ngày 31/12/2020
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh, ông Dương Minh Thiết.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

Đại viện viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31/12/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 408/2020/TLST-HNGĐ ngày 23/11/2020 về việc tranh chấp Hôn nhân gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2020/QĐST-HNGĐ ngày 16/12/2020 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Tăng Thị N, sinh năm 1977 (có mặt)

Địa chỉ: thôn Trại Hai, xã Yên Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1974 (vắng mặt và có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: thôn Đại Giáp, xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Tăng Thị N trình bày: Chị tự nguyện kết hôn với anh Nguyễn Văn H vào ngày 17/7/1994, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Yên Sơn, Lục Nam, Bắc Giang. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Đến khoảng năm 2010 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn to tiếng, cãi chửi nhau do bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên căng thẳng, không có hạnh phúc. Chị đã về nhà bố mẹ đẻ tại thôn Trại Hai, xã Yên Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang để ở từ năm 2010 cho đến nay, không quay về chung sống cùng anh H nữa. Vợ chồng sống ly thân không quan tâm, chăm sóc gì cho nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: vợ chồng chị có 02 con chung là Nguyễn Thị Ngọc Hoa, sinh năm 1995 và Nguyễn Thị Ngọc Lan, sinh năm 1998. Do hiện nay các con chung đều đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng chị không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản ghi lời khai ngày 10/12/2020, bị đơn là anh Nguyễn Văn H trình bày: Anh xác nhận thời gian kết hôn, đăng ký kết hôn, quá trình chung sống và mâu thuẫn vợ chồng như chị N trình bày là đúng. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng và đã có khoảng thời gian dài sống ly thân nhau. Vì vậy, chị N xin ly hôn thì anh đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung là Nguyễn Thị Ngọc Hoa, sinh năm 1995 và Nguyễn Thị Ngọc Lan, sinh năm 1998. Do hiện nay các con chung đều đã trưởng thành nên anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh H vắng mặt và có ý kiến xin vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa: Chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn H. Về con chung; tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Anh H vắng mặt tại phiên tòa và đã có ý kiến xin xét xử vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định của pháp luật.

- Nội dung giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tăng Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Đơn khởi kiện của chị Tăng Thị N cùng các tài liệu nộp kèm theo đơn là hợp lệ, đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện Lạng Giang. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang đã thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự pháp luật đã quy định. Tại phiên tòa nguyên đơn là chị N có mặt, bị đơn là anh H vắng mặt và đã có ý kiến xin xét xử vắng mặt. Vì vậy HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh H theo quy định tại khoản 1 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tăng Thị N và anh Nguyễn Văn H có đăng ký kết hôn vào ngày 17/7/1994 tại UBND xã Yên Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị N, anh H là hợp pháp.

Về tình trạng hôn nhân, Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Lời khai của chị N, anh H đều xác định vợ chồng có sảy ra nhiều mâu thuẫn to tiếng, cãi chửi nhau và đã có khoảng thời gian dài sống ly thân từ đầu năm 2010 cho đến nay không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau.

Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị N và ý kiến của anh H đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy rằng, trong thời gian sống chung vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ về nhân thân, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình. Chị N, anh H đã mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2010 đến nay không quan tâm, chăm sóc gì cho nhau. Việc này trái với các quy định tại các điều 19, 21 luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về căn cứ cho ly hôn thì thấy rằng: Tình trạng của vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N đối với anh H.

Về con chung: Vợ chồng chị N, anh H có 02 con chung là Nguyễn Thị Ngọc Hoa, sinh năm 1995 và Nguyễn Thị Ngọc Lan, sinh năm 1998. Do hiện nay các con chung đều đã trưởng thành và chị N, anh H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Chị N, anh H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tăng Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

2. Về con chung; tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Chị N, anh H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về án phí: Chị Tăng Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0002689 ngày 23/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Cỡ chữ