vanban.org

Bản án 90/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 23/09/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Ngọc C và chị Nguyễn Thị S đối với Công ty cổ phần xây dựng cảnh quan N về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc Công ty cổ phần xây dựng cảnh quan N có trách nhiệm thanh toán cho anh Trần Ngọc C và chị Nguyễn Thị S số tiền còn nợ là 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa anh Trần Ngọc C, chị Nguyễn Thị S và công ty cổ phần cảnh quan N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Ngọc C và chị Nguyễn Thị S đối với Công ty cổ phần xây dựng cảnh quan N về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 90/2020/DS-ST
Ngày 23/9/2020
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài
sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Hồng Gấm;

Bà Nguyễn Ngọc Diệp.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 157/2020/TLST- DS ngày 05 tháng 5 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 98/2020/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 8 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 104/2020/QĐST – DS ngày 07 tháng 9 năm 2020, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn:

1. Anh Trần Ngọc C, sinh năm 1990; thƣờng trú: Đội 8, thôn T, xã Q, thị xã Bn, tỉnh Q; chổ ở hiện nay: Số 598 tổ 7, khu phố Đ, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.

2. Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1990; thƣờng trú: Thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Q; chổ ở hiện nay: Số 598 tổ 7, khu phố Đ, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.

Ngƣời đại diện hợp pháp của anh C và chị S: Chị Trƣơng Thị Hồng N, sinh năm 1990; địa chỉ: Ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh T, là ngƣời đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 24/7/2020). Có mặt

- Bị đơn: Công ty cổ phần xây dựng cảnh quan N; địa chỉ: Số 4/65 khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.

Ngƣời đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Phú N1, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Vũ Viết N2, sinh năm 1979; thƣờng trú: Xã T, huyện H, tỉnh N; địa chỉ liên hệ: 362 P, phƣờng 1, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo Đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 4 năm 2020, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của nguyên đơn anh Trần Ngọc C, chị Nguyễn Thị S và lời khai tại phiên tòa của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là chị Trương Thị Hồng N trình bày:

Anh Trần Ngọc C nguyên là nhân viên của Công ty cổ phần xây dựng cảnh quan N (sau đây gọi tắt là Công ty N) có trụ sở tại địa chỉ: Số 4/65 khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng do ông Nguyễn Phú N1 làm Giám đốc, Tổng giám đốc. Ngày 27/8/2018, ông N1 có hỏi vay vợ chồng anh C số tiền 300.000.000 đồng để giải quyết một số công nợ của Công ty, không xác định thời hạn trả nhƣng có thỏa thuận lãi suất là 4%/tháng và nếu vợ chồng anh C muốn lấy lại tiền thì báo trƣớc 15 ngày. Vợ chồng anh C đồng ý và hẹn chiều sẽ giao tiền. Khi anh C mang tiền đến Công ty thì ông N1 đi công tác, không có mặt tại Công ty. Lúc này, ông N2 là lái xe riêng của ông N1 có mặt và thay mặt ông N1 nhận số tiền trên. Đồng thời, ông N2 có đƣa giấy vay tiền của Công ty cổ phần xây dựng cảnh quan N do ông N1 là đại diện Công ty ký tên, đóng dấu sẵn. Ông N2 còn ghi rõ bên A (tức Công ty N) đồng ý trả cho bên B (tức anh C, chị S) tiền lãi suất là 12.000.000 đồng/tháng. Ngoài ra, ông N2 còn viết 01 giấy biên nhận tiền riêng thể hiện đã nhận số tiền 300.000.000 đồng của anh C, chị S vào ngày 27/8/2018 và đã đƣa lại cho ông N1 vào buổi tối cùng ngày.

Đến khoảng tháng 3/2019, vợ chồng anh C, chị S cần tiền nên có báo trƣớc cho Công ty N 15 ngày để yêu cầu trả tiền. Tuy nhiên, phía Công ty có hứa hẹn nhiều lần nhƣng không thực hiện. Ngày 10/02/2020, vợ chồng anh C, chị S có gửi thông báo cho Công ty N biết việc anh chị sẽ khởi kiện Công ty để yêu cầu trả số tiền đã mƣợn nhƣng phía Công ty không có ý kiến gì. Hành vi cố ý không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ của Công ty N đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh C và chị S.

Do vậy, anh C và chị S khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố D đề nghị Tòa án buộc Công ty N phải trả toàn bộ số tiền đã mƣợn theo Giấy vay tiền ngày 27/8/2018. Tại đơn khởi kiện ngày 21/4/2020 thì anh C và chị S có yêu cầu:

Buộc Công ty N trả lại số tiền gốc còn nợ là 300.000.000 đồng; Thanh toán tiền lãi phát sinh (tạm tính từ ngày 01/4/2019 đến ngày 01/4/2020) gồm lãi quá hạn và lãi chậm trả, cụ thể:

Lãi quá hạn là: 1,5% x 12 tháng x 300.000.000 đồng = 54.000.000 đồng.

Lãi chậm trả là: 0,83% x 12 tháng x 300.000.000 đồng = 29.880.000 đồng.

Tổng cộng, buộc Công ty N trả cho anh Trần Ngọc C và chị Nguyễn Thị S số tiền gốc và lãi phát sinh tạm tính là 383.880.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm tám mƣơi ba triệu, tám trăm tám mƣơi nghìn đồng). Tuy nhiên, tại phiên tòa ngày 23/9/2020, nguyên đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể nhƣ sau: Nguyên đơn chỉ yêu cầu Công ty N phải trả toàn bộ số tiền đã mƣợn theo Giấy vay tiền ngày 27/8/2018 là 300.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.

- Quá trình tố tụng, bị đơn Công ty cổ phần xây dựng cảnh quan N đã đƣợc Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ, triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 15/7/2020 và tham gia phiên tòa vào các ngày 07/9/2020 và 23/9/2020 nhƣng ngƣời đại diện theo pháp luật của Công ty N không đến Tòa án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố, không yêu cầu Tòa án triệu tập thêm tham gia tố tụng, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

- Người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan ông Vũ Viết N2 có yêu cầu giải quyết vắng mặt nhưng tại bản tự khai ngày 15/7/2020 đã trình bày:

Ông Vũ Viết N2 là lái xe riêng của ông Nguyễn Phú N1 – Giám đốc, Tổng giám đốc Công ty cổ phần xây dựng cảnh quan N. Thời điểm ông N2 còn làm việc tại Công ty thì anh Trần Văn C cũng là nhân viên kỹ thuật của Công ty. Sáng ngày 27/8/2018, ông N2 có chứng kiến việc Công ty N vay tiền của vợ chồng anh C. Đến chiều cùng ngày khi anh C mang tiền đến Công ty nhƣng do ông N1 đi vắng. Trƣớc khi đi ông N1 có nhờ ông nhận thay số tiền trên. Vì vậy, khi anh C mang tiền đến Công ty thì ông đã trực tiếp nhận và đƣa giấy vay tiền do ông N1 soạn và đã ký tên, đóng dấu sẵn cho anh C giữ. Tối cùng ngày ông đã đƣa toàn bộ số tiền nêu trên cho ông N1. Hiện nay, Công ty N đã trả số tiền trên cho vợ chồng anh C hay chƣa thì ông N2 không biết vì ông đã nghỉ việc tại Công ty. Ông N2 không liên quan gì đến khoản vay trên.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa đã tuân theo đúng các qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng: Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Viết N2 có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Ngƣời đại diện hợp pháp của bị đơn đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhƣng vắng mặt không có lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định.

Tại phiên toà, ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về việc không yêu cầu tính lãi đối với khoản tiền nợ gốc, dây là sự tự nguyện của đƣơng sự nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc công bố tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện iểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Công ty cổ phần xây dựng cảnh quan N có địa chỉ tại Số 4/65 khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng do ông Nguyễn Phú N1 là ngƣời đại diện theo pháp luật phải trả số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng. Do đó, Tòa án xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng đƣợc quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngƣời đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty cổ phần xây dựng cảnh quan N đã đƣợc triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 07/9/2020 và ngày 23/9/2020 nhƣng đều vắng mặt không có lý do. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Viết N2 có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Căn cứ vào giấy vay tiền ngày 27/8/2018 có cơ sở xác định: Anh Trần Ngọc C và chị Nguyễn Thị S cho Công ty N vay số tiền 300.000.000 đồng. Giấy vay tiền có chữ ký của ngƣời đại diện theo pháp luật và con dấu của Công ty. Mặc dù hai bên không xác định lãi suất và thời hạn trả nhƣng có thỏa thuận nếu anh C và chị S muốn lấy lại tiền phải báo trƣớc 15 ngày. Chứng cứ này đƣợc ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Viết N2 – nguyên là lái xe riêng của ông Nguyễn Phú N1 xác nhận. Ông N2 xác định ông chính là ngƣời đã nhận tiền thay cho Công ty theo yêu cầu của ông N1 và khi nhận tiền thì ông có ghi việc Công ty N đồng ý sẽ trả lãi cho nguyên đơn là 12.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, nội dung của việc đồng ý trả tiền lãi hàng tháng của ông N2 không có sự xác nhận của ngƣời đại diện theo pháp luật của Công ty. Đồng thời, ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn cũng xác định kể từ thời điểm giao tiền cho đến thời điểm nguyên đơn khởi kiện thì phía Công ty N không trả cho nguyên đơn bất kỳ khoản tiền lãi nào. Nhƣ vậy, theo quy định tại Khoản 1 Điều 469 Bộ luật dân sự thì hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi. Khoảng tháng 3/2019, vợ chồng anh C, chị S cần tiền nên có báo trƣớc cho Công ty N 15 ngày để yêu cầu trả tiền. Tuy nhiên, phía Công ty có hứa hẹn nhiều lần nhƣng không thực hiện. Ngày 10/02/2020, vợ chồng anh C, chị S có gửi thông báo cho Công ty N biết việc anh chị sẽ khởi kiện Công ty để yêu cầu trả số tiền đã mƣợn nhƣng phía Công ty không có ý kiến gì đồng thời khi vợ chồng anh C đến Công ty N tại Số 4/65 khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng để yêu cầu Công ty thực hiện nghĩa vụ trả tiền nhƣng Công ty đóng cửa, ngƣời đại diện theo pháp luật của Công ty không liên lạc đƣợc. Quá trình tố tụng, ngƣời đại diện theo pháp luật của Công ty N đã đƣợc Tòa án niêm yết giấy triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhiều lần nhƣng vắng mặt không có lý do và không có văn bản nào thể hiện ý kiến về việc không thừa nhận chữ ký của mình và con dấu của Công ty N trong giấy vay tiền ngày 27/8/2018 mà nguyên đơn cung cấp, đồng thời, ngƣời đại diện theo pháp luật của Công ty N cũng không xuất trình chứng cứ chứng minh đã hoàn trả xong khoản tiền nêu trên cho anh C và chị S nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Công ty N trả số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng là có căn cứ chấp nhận. Anh C và chị S không yêu cầu tính lãi suất đối với khoản tiền nêu trên, đây là sự tự nguyện của đƣơng sự nên ghi nhận.

Từ những phân tích nêu trên, Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng về việc giải quyết vụ án.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty cổ phần xây dựng cảnh quan N phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 144, Điều 147, Điều 217, Điều 218, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 357, Điều 463, khoản 2 Điều 468 và khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Ngọc C và chị Nguyễn Thị S đối với Công ty cổ phần xây dựng cảnh quan N về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc Công ty cổ phần xây dựng cảnh quan N có trách nhiệm thanh toán cho anh Trần Ngọc C và chị Nguyễn Thị S số tiền còn nợ là 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty cổ phần xây dựng cảnh quan N phải chịu 15.000.000 (mƣời lăm triệu) đồng. Trả lại cho anh Trần Ngọc C và chị Nguyễn Thị S 9.597.000 (chín triệu năm trăm chín mƣơi bảy nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0040363 ngày 04 tháng 5 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Nguyên đơn có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.

Cỡ chữ