- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ng c H (tên g i khác: Ng c) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 90 /2019/HSST Ngày 02-4-2019. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Linh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
2. Bà Phạm Tú Nhi.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2019/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 98/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 03 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Ng c H (tên g i khác: Ng c), sinh năm 1986, tại Thành phố Hồ Chí Minh; thƣờng trú: Phƣờng 5 Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ h c vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn N và con bà Nguyễn Thị Ng c H, sinh năm 1968; có chồng tên Bạch Văn H, sinh năm 1990 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ từ ngày 02/11/2017 đến ngày 11/11/2017 đƣợc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, bị b t truy nã ngày 04/10/2018, có mặt tại phiên tòa.
Ng i làm ch ng
1. Anh Trần Anh K, có mặt
2. Anh Đặng Quốc A, v ng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm t t nhƣ sau:
Bị cáo Nguyễn Thị Ng c H sử dụng ma túy từ năm 2013, loại ma túy sử dụng là ma túy đá (Methamphetamine), H quen biết Trần Anh K, Đặng Quốc A do cùng làm nhân viên tại quán massage Vạn An Bình địa chỉ phƣờng An Bình, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Khoảng 10 giờ ngày 02/11/2017, H đón xe từ phòng tr địa chỉ 4C/26 khu phố Bình Đƣờng 4, phƣờng An Bình, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đến chợ Hòa Hƣng thuộc Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh gặp ngƣời tên Bảo (không r lai lịch) mua 1.000.000 đồng ma túy, Bảo đƣa H một bịch nylon miệng kéo dính bên trong chứa chất tinh thể màu tr ng, H mang về phòng tr phân nhỏ thành 9 liều để trong 9 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu. H sử dụng hết 03 liều, đến khoảng 11 giờ cùng ngày Quốc A và K đến phòng ở tr của H chơi, A mua của H 01 liều ma túy giá 200.000 đồng (K, A m i ngƣời bỏ ra 100.000 đồng) và sử dụng ngay tại phòng tr của H, sau đó A đi làm K ở lại phòng cùng H, đến 18 giờ cùng ngày H bán cho ngƣời tên Tý (không r nhân thân) 01 liều ma túy giá 300.000 đồng, A sau khi đi làm về tiếp tục đến phòng của H chơi. Vào lúc 19 giờ 30 phút cùng ngày Công an phƣờng An Bình, thị xã Dĩ An kiểm tra hành chính phòng ở tr của H, lập biên bản b t giữ ngƣời phạm tội quả tang đối với H.
Vật chứng thu giữ: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 04 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể màu tr ng.
Quá trình điều tra bị cáo H khai nhận đã bán ma túy cho Trần Anh K hai lần, m i lần một liều giá 200.000 đồng vào ngày 25/10/2017 và 28/10/2017. Bán cho Đặng Quốc A hai lần m i lần một liều giá 200.000 đồng vào ngày 24/10/2017 và 02/11/2017, các lần bán tại phòng ở tr của H.
Bản kết luận giám định số 511/GĐ-PC54 ngày 07/11/2017 của Phòng kỹ thuật Hình sự công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận tinh thể màu tr ng có trong 04 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu thu giữ của H có tr ng lƣợng 0,5457 gam loại Methamphetamine.
Cáo trạng số 60/QĐ-KSĐT ngày 30 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ng c H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 xử phạt bị cáo H từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 04 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể màu tr ng.
Bị cáo H không tranh luận, không bào chữa cho hành vi phạm tội. Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án bị cáo H nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án để sớm về gia đình lo cho 02 ngƣời con còn nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Bị cáo Nguyễn Thị Ng c H sử dụng ma túy, bị cáo mua ma túy về phân nhỏ để sử dụng và bán cho Trần Anh K, Trần Quốc A m i ngƣời 02 lần, m i lần 01 liều giá 200.000 đồng. Ma túy H bán cho K, A là Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 323, Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Tại Đi u 194 Bộ lu t Hình s năm 1999, s a đ i b sung năm 2009 quy đ nh:
1. Ng i nào tàng trữ, v n chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì b phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các tr ng h p sau đây thì b phạt tù từ bảy năm đến m i lăm năm.
a)…..
b)Phạm tội nhi u l n.
Nhƣ vậy, hành vi bị cáo H bán ma túy cho K và Quốc A đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy đƣợc quy định tại điểm b (phạm tội nhiều lần) thuộc khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 60/CT-VKS-DA ngày 30/01/2019 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo H cũng nhƣ trình bày luận tội của Kiểm sát viên ngày hôm nay đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất mức độ tội phạm: Khung hình phạt bị cáo Nguyễn Thị Ng c H bị truy tố, xét xử là tội phạm rất nghiêm tr ng do có mức hình phạt đến 15 năm tù, bị cáo H là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nƣớc về ma túy, ảnh hƣởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phƣơng.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự thú hành vi bán ma túy cho K và Quốc A. Tình tiết giảm nhẹ trên đƣợc quy định tại điểm o, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Về nhân thân: Bị cáo H không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo sử dụng ma túy trong thời gian dài
Xét, hành vi phạm tội của bị cáo H gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nƣớc về ma túy, ảnh hƣởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo H mức án tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo tự cải tạo, r n luyện bản thân sau này không vi phạm nữa. Bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 xử phạt bị cáo H mức hình phạt dƣới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ ma túy, bộ sử dụng ma túy của bị cáo H. Vật chứng thuộc loại nhà nƣớc cấm lƣu hành, liên quan đến việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với Trần Anh K, Đặng Quốc A sử dụng ma túy, đã mua ma túy của H để sử dụng, ngƣời tên Bảo bán ma túy cho H. Công an thị xã Dĩ An đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng tiền đối với K và Quốc A, tiếp tục xác minh đối với Bảo là phù hợp.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng về nhân thân bị cáo H, việc xử lý vật chứng. Xét, quan điểm trên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy đƣợc chấp nhận. iêng mức hình phạt đối với bị cáo H có phần nghiêm kh c, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo H mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ng c H (tên g i khác: Ng c) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 194; điểm o, p khoản 1 Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ng c H 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/10/2018, bị cáo đƣợc tính trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/11/2017 đến ngày 11/11/2017.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thƣ đã đƣợc niêm phong có ma túy sau giám định là 0,3835 gam Methamphetamine; 01 bộ sử dụng ma túy. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/01/2019.
3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Thị Ng c H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã; - Công an thị xã; - Chi cục THA dân sự thị xã; - Trại tạm giam CA tỉnh BD; - TAND tỉnh BD; - UBND xã, phƣờng nơi bị cáo cƣ trú; - Phòng PV 27 CA tỉnh BD; - Phòng PC 81 CA tỉnh BD; - Bị cáo; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Linh |