vanban.org

Bản án 90/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 18/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thương T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b khoản 3 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Về hình phạt: Phạt bị cáo Nguyễn Thương T 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 30/5/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BẢN ÁN HSST - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thương T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 90 /2019/HS-ST
Ngày: 18-9-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông: Lê Văn Minh;

2/ Ông: Nguyễn Văn Y;

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Trương Tấn Thành – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Ông Lữ Văn Thới – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2019/HSST ngày 10/7/2019 đối với bị báo:

- Họ tên: Nguyễn Thương T sinh năm 1988 tại Tiền Giang; HKTT: Số 107/6 LTHG, Phường 6, Tp. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Thợ cơ khí; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không ; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P (1961 đã chết) và bà Nguyễn Thị T (1961); Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: không; Tiền án: 01 lần vào ngày 29/11/2013 bị Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho xử phạt 07 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành án xong ngày 29/5/2018 nhưng chưa được xóa án tích; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 30/5/2019 và chuyển tạm giam từ ngày 08/6/2019 cho đến nay .

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T sinh năm 1961; Nơi cư trú: Số 107/6 LTHG, Phường 6, TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

+ Người làm chứng: Anh Trương Minh S sinh năm 1984; Nơi cư trú: ấp 1, xã THT, huyện TP, tỉnh Tiền Giang.

( Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa ;

Người làm chứng vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ, ngày 30/5/2019, Nguyễn Thương T điều khiển xe mô tô biển số 63H1 – 7289 đi từ TP. Hồ Chí Minh về Tiền Giang, đến chốt giao thông thuộc ấp Tân Thạnh, xã Tân Hương, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, Lực lượng công an phát hiện chặn xe kiểm tra và bắt quả tang Nguyễn Thương T đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Công an tiến hành thu giữ bịch ma túy và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thương T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng vụ án Cơ quan điều tra thu giữ được:

- 01 (Một) gói niêm phong bên trong có chứa hai bịch nylon màu trắng được hàn kín chứa tinh thể trong suốt nghi là ma túy. Bên ngoài gói niêm phong có chữ ký xác nhận họ tên Nguyễn Thương T.

- 01 (Một) bịch nylon màu đen.

- 01 (Một) xe mô tô hai bánh biển số 63H1 – 7289.

- 01 (Một) điện thoại di động vỏ màu tím, mặt sau có ghi chữ SamSung.

- 01 (Một) giấy chứng minh nhân dân số 312005865 mang tên Nguyễn Thương T, sinh ngày 08/11/1988.

- 01 (Một) giấy phép lái xe số AB547543 mang tên Nguyễn Thương T, sinh năm 1988.

- 01 (Một) giấy đăng ký xe mô tô 63H1 – 7289 số 013302 tên chủ xe Lương Bình T, ngụ 279 ấp 1, xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Theo kết luận giám định số 100/KLGĐ-PC09 ngày 01/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang xác định: Các mẫu tinh thể trong suốt trong 02 ( hai) gói nylon màu trắng được hàn kín, để trong 01 bì thư được niêm phong có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thương T và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA – CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 99,7713 gam loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra xử lý vật chứng như sau:

- 01 (Một) giấy chứng minh nhân dân số 312005865 mang tên Nguyễn Thương T, sinh ngày 08/11/1988; 01 (Một) giấy phép lái xe số AB547543 mang tên Nguyễn Thương T, sinh năm 1988. Qua điều tra xác minh, các tài sản, đồ vật này Nguyễn Thương T sử dụng vào mục đích cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành đã xử lý vật chứng trao trả lại cho bị can Nguyễn Thương T.

- 01 (Một) xe mô tô hai bánh biển số 63H1 – 7289; 01 (Một) giấy đăng ký xe mô tô 63H1 – 7289 số 013302 tên chủ xe Lương Bình T, ngụ 279 ấp 1, xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Qua điều tra xác minh, xe này do anh Lương Bình T, đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe. Anh Trọng xác định đã chuyển nhượng xe này cho một người phụ nữ không rõ họ tên, địa chỉ với giá 15.000.000 đồng nhưng không làm giấy tờ mua bán, chưa làm thủ tục sang tên và đã giao giấy chứng nhận đăng ký xe. Bà Nguyễn Thị T (mẹ ruột bị can T), xác định bà mua lại xe này của một người không rõ họ tên, địa chỉ với giá 15.000.000 đồng và được giao giấy chứng nhận đăng ký xe nhưng không làm giấy tờ mua bán và thủ tục sang tên. Bà T sử dụng xe này làm phương tiện đi lại cá nhân. Ngày 30/5/2019, Tín hỏi mượn xe 63H1 – 7289 để đi sinh nhật bạn Tín nên Bà T đồng ý. Bà T xác định hoàn toàn không biết việc T sử dụng xe 63H1 – 7289 dùng làm phương tiện đi mua ma túy và cất giấu ma túy trên xe nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành đã xử lý vật chứng trao trả lại cho bà Nguyễn Thị T và Bà T không có yêu cầu gì khác.

Tại Cáo trạng số 75/CT- VKSCT ngày 08/7/2019, bị cáo Nguyễn Thương T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” căn cứ theo điểm b khoản 3 điều 249 BLHS và phân tích:

Đối tượng tên L là người bán ma túy cho Nguyễn Thương T qua mạng xã hội Facebook không có họ tên và địa chỉ cụ thể, CQĐT không làm việc được nên tách ra là rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý trách nhiệm hình sự sau.

Xe ô tô biển số 63H1 – 7289, bị cáo điều khiển khi bị bắt là tài sản của Nguyễn Thị T (mẹ của bị cáo) mua của người khác nhưng chưa làm thủ tục sang tên, mục đích làm phương tiện đi lại của gia đình. Bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy Bà T không biết. Cơ quan CSĐT Công an huyện Châu Thành đã xử lý vật chứng, giao trả cho chủ sở hữu là đúng quy định pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thương T khai nhận:

Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 30/5/2019, bị cáo dùng chiếc điện thoại di động hiệu Sam Sung, vỏ màu tím liên lạc qua mạng xã hội Facebook với L (không rõ họ tên, địa chỉ) để hỏi mua ma túy thì L đồng ý. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo điều khiển xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Nouvo, biển số 63H1 – 7289, từ phường 6, thành phố Mỹ Tho đến khu vực cầu vượt (không rõ tên) trên đường quốc lộ 1A thuộc huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh để gặp L mua ma túy. Tại đây, bị cáo mua của L 02 (hai) bịch ma túy với giá 25.000.000 đồng. L giao 02 (hai) bịch ma túy được để trong 01 (một) bịch nylon màu đen. Sau đó, bị cáo cất giấu bịch ny lon màu đen có chứa 02 (hai) bịch ma túy này vào trong hộc để đồ bên trái phía trước xe Nouvo, biển số 63H1 – 7289 và điều khiển xe về nhà. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo điều khiển xe 63H1 – 7289 về đến khu vực trụ đèn giao thông gần cổng Khu công nghiệp Tân Hương, thuộc ấp Tân Thạnh, xã Tân Hương, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, bắt quả tang bị cáo cất giấu hai bịch ma túy và thu giữ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thương T thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép 02 bịch là ma túy có khối lượng là 99,7713gam, loại Methamphetamine; Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự ;

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thương T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự;

- Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Thương T từ 14 năm đến 14 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 30/5/2019.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Một điện thoại di động mặt sau có ghi chữ SamSung, vỏ màu tím.

+ Tịch thu tiêu hủy : 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu số 100 ghi ngày 01 tháng 6 năm 2019, có chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (giám định viên), Nguyễn Thị Kiều Linh (trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Ảnh (bên nhận) và dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ

- CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; bên trong có 01 gói nylon màu trắng được dán kín là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ và 02 vỏ bao nylon màu trắng đã bị cắt một đầu và 01 (Một) bịch nylon màu đen bị cáo dùng để cất giấu ma túy .

Bị cáo Nguyễn Thương T nói lời sau cùng: Bị cáo biết lỗi của mình đã sai, thừa nhận hành vi phạm tội và hứa sẽ không tái phạm, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện đầy đủ các chứng cứ, lời khai của bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Thương T thừa nhận, bị cáo có hành vi cất giấu trái phép 02 bịch ma túy qua giám định có khối lượng 99,7713gam là Methamphetamine. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, các chứng khác có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với cáo trạng truy tố cũng như kết luận luận tội của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố. Xét thấy hành vi của bị cáo rất xem thường pháp luật; Bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 99,7713gam là Methamphetamine; Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về ma túy; Khi thực hiện tội phạm bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; Bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, gây tác hại xấu cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm để có ma túy sử dụng thỏa mãn cơn nghiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Thương T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi mà mình đã gây ra.

[3] Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần, tính mạng của người nghiện và là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm, các tệ nạn xã hội và các căn bệnh nguy hiểm trong cộng đồng dân cư; Làm ảnh hưởng đến trật tự, an ninh ở địa phương.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội khi có 01 tiền án về tội phạm rất nghiêm trọng chưa được xóa án tích, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS;

Xét về nhân thân: Gia đình bị cáo rất đơn chiếc, cha bị cáo là bộ đội chiến trường Campuchia bị mất sớm. Mẹ bị cáo thường xuyên bệnh tật, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[4] Về vật chứng vụ án:

Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và giao trả xe cho chủ sở hữa và trả lại tài sản không có liên quan đến vụ án cho bị cáo theo đúng quy định pháp luật. HĐXX không xem xét lại.

Xét các vật chứng khác hiện Chi cục THADS huyện Châu Thành tạm giữ gồm:

+ 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu số 100 ghi ngày 01 tháng 6 năm 2019, có chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (giám định viên), Nguyễn Thị Kiều Linh (trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Ảnh (bên nhận) và dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG, bên trong có 01 gói nylon màu trắng được dán kín chứa ma túy loại methamphetamine là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ; 02 vỏ bao nylon màu trắng đã bị cắt một đầu và 01 (Một) bịch nylon màu đen bị cáo dùng để cất giấu ma túy. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 89, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX quyết định tịch thu tiêu hủy.

+ Một điện thoại di động vỏ màu tím, mặt sau có ghi chữ SamSung là tài sản của bị cáo, sử dụng để liên lạc mua ma túy về tàng trữ. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 89; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX quyết định tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát phân tích tính chất mức độ, hành vi phạm tội và đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở như đã phân tích trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về mức hình phạt, HĐXX có xem xét lại cho phù hợp với tính chất, mức độ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hoàn cảnh gia đình của bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thương T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b khoản 3 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Về hình phạt: Phạt bị cáo Nguyễn Thương T 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 30/5/2019.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 89; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Một điện thoại di động vỏ màu tím, mặt sau có ghi chữ SamSung có pin, số IMEI: 358131/09/466615/4.

+ Tịch thu tiêu hủy : 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu số 100 ghi ngày 01 tháng 6 năm 2019, có chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (giám định viên), Nguyễn Thị Kiều Linh (trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Ảnh (bên nhận) và dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ

- CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG và 01 (một) bịch nylon màu đen;

(Các vật chứng trên do Chi Cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/7/2019).

- Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Thương T phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ