vanban.org

Bản án 90/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Quách Thị H và anh Phạm Văn H1.

Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Khôi N, sinh ngày 31/3/2012, cho anh Phạm Văn H1 nuôi dưỡng trực tiếp đến khi con chung trưởng thành và có khả năng lao động được. Chị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh H1 theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v ly hôn giữa chị H và anh H1"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Quách Thị H và anh Phạm Văn H1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI H1
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90 /2019/HNGĐ-ST
Ngày: 16- 4 - 2019
V/v ly hôn giữa chị H và anh H1

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI H1, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Việt Hùng;

Ông Nguyễn Ngọc Chinh.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải H1, tỉnh Nam Định.

Ngày 16 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải H1, tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2019/TLST- HNGĐ ngày 15/02/2019 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/3/2019 và Quyết đinh hoãn phiên tòa số 10/2019/QĐST ngày 27/03/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Quách Thị H, sinh năm 1992; địa chỉ: Xóm 1, xã HĐ, huyện HH, tỉnh Nam Định “vắng mặt”.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn H1, sinh năm 1984; địa chỉ: Xóm 1, xã HĐ, huyện HH, tỉnh Nam Định “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 03 tháng 02 năm 2019 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn – chị Quách Thị H trình bày:

Chị Quách Thị H và anh Phạm Văn H1 kết hôn với nhau ngày 11/10/2011 tại Ủy ban nhân dân xã HĐ, huyện HH, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, tình cảm ngày càng lạnh nhạt nên chị H và anh H1 đã sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ trách nhiệm, tình cảm từ tháng 9 năm 2018. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H làm đơn đề nghị Tòa án được ly hôn với anh H1 .

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là: cháu Phạm Khôi N, sinh ngày 31/3/2012, hiện đang sống cùng anh H1. Nay ly hôn, chị H đồng ý để anh H1 nuôi dưỡng con chung, chị H tự có trách nhiệm đi lại thăm nom, chăm sóc con chung.

Về tài sản và công nợ chung: Chị H khai nhận vợ chồng không có tài sản, công nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do hiện nay điều kiện công việc bận rộn không đến Tòa án làm việc được nên chị H đề nghị được vắng mặt tại phiên xét xử của Tòa án, giữ nguyên lời khai ở trên, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

* Quá trình tố tụng bị đơn – anh Phạm Văn H1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh H1 có lời khai phù hợp với lời khai của chị H về thời gian kết hôn, quá trình chung sống và ly thân.Tuy nhiên theo anh H1 khai nguyên nhân vợ chồng sống ly thân do mâu thuẫn nhỏ và do hiện nay cả hai còn trẻ nên chị H làm đơn xin ly hôn, anh H1 đề nghị Tòa án phân tích để vợ chồng đoàn tụ, còn nếu chị H quyết tâm ly hôn, anh H1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Khôi N, sinh ngày 31/3/2012, hiện đang sống cùng anh H1, nếu buộc phải ly hôn anh H1 có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản và công nợ chung: Anh H1 không kê khai và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà: Chị H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh H1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Quách Thị H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Phạm Văn H1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh H1.

Về quan hệ hôn nhân:

Cuộc hôn nhân giữa chị Quách Thị H và anh Phạm Văn H1 trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã HĐ, huyện HH, tỉnh Nam Định tổ chức đăng kí kết hôn ngày 11 tháng 10 năm 2011 là hợp pháp.

Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Quách Thị H và anh Phạm Văn H1 là có thật. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không thật sự tin tưởng và cảm thông chia sẻ với nhau, tính tình và quan điểm sống khác nhau, vợ chồng đã ly thân, chấm dứt mọi quan hệ trách nhiệm tình cảm từ tháng 9 năm 2018 cho đến nay. Chị H làm đơn xin ly hôn, anh H1 không nhất trí.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh H1 đã sâu sắc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu đề nghị xin ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung:

Quá trình chung sống vợ chồng chị H và anh H1 có 01 con chung là cháu Phạm Khôi Nguyên, sinh ngày 31/3/2012, hiện đang sống cùng anh H1. Nay ly hôn, chị H nhất trí để anh H1 nuôi con chung và anh H1 có nguyện vọng xin được nuôi con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định pháp luật.

Xét điều kiện, hoàn cảnh thực tế hiện nay và yêu cầu của các bên thì thấy: Hiện nay cháu N đang chung sống cùng anh H1, chị H cũng nhất trí giao con chung cho anh H1không có tranh chấp gì, cháu N có đơn đề nghị có nguyện vọng xin ở với anh H1, vì vậy nên tiếp tục giao cháu N cho anh H1 nuôi dưỡng trực tiếp và chấp nhận ý kiến tự nguyện của anh Phạm Văn H1 không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho anh là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về chia tài sản và công nợ chung: Chị H và anh H1 không yêu cầu giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm ly hôn: Chị Quách Thị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Toà án của Ủy ban TH vụ Quốc hội:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Quách Thị H và anh Phạm Văn H1.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Khôi N, sinh ngày 31/3/2012, cho anh Phạm Văn H1 nuôi dưỡng trực tiếp đến khi con chung trưởng thành và có khả năng lao động được. Chị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh H1 theo quy định pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được gây khó khăn cản trở, nhưng người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

3. Về án phí dân sự:

Chị Quách Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn, nhưng được khấu trừ vào 300.000đ đã nộp theo biên lai số AA/2016/0000302 ngày 15/02/2019 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hải H1. Chị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

4. Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ