vanban.org

Bản án 90/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Võ Văn N đối với chị Trần Thị T.

Về con chung: Anh Võ Văn N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Võ Thị D, sinh ngày 21/12/2003 (phù hợp với biên bản lấy ý kiến cháu D ngày 15/8/2019 của Tòa án). Ghi nhận sự tự nguyện của anh N không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Chị Trần Thị T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "yêu cầu ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Võ Văn N đối với chị Trần Thị T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90 /2019/HNGĐ-ST
Ngày: 24/10/2019
V/v “Yêu cầu ly hôn, nuôi con
chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Chí Vũ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Lớn

2. Ông Nguyễn Xuân Trường

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Vân – Là thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Chúc – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình đã thụ lý số: 368/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2019 về việc “yêu cầu ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2019/QĐXX-HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2019/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Võ Văn N (Đ), sinh năm 1981 (có mặt).

Địa chỉ: ấp A1, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp A1, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/7/2019, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, anh Võ Văn N trình bày:

Anh và chị Trần Thị T cưới nhau năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A (huyện B – tỉnh Bến Tre) ngày 02/6/2004, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 3 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do việc làm kinh tế không thuận lợi và chị T gây ra nợ nần bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ tháng 3 năm 2019 đến nay. Khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng anh cũng không có nhờ cha mẹ hai bên tác động hàn gắn và đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2019 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng anh cũng không có tới lui để hàn gắn. Hiện nay, anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn với chị T, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Trần Thị T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, anh và chị T có 01 con chung tên là Võ Thị D, sinh ngày 21/12/2003 hiện đang sống với anh. Nay ly hôn, anh yêu cầu được nuôi cháu D và tự nguyện không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có.

Về nợ chung: không có.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, xét thấy trong quá trình tố tụng, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng, các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh N đối với chị T. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử để cháu D cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của anh N không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung: không có. Về nợ chung: không có.

Từ các lời trình bày trên,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, đề nghị của kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn chị Trần Thị T đã được Tòa án tống đạt triệu tập tham dự phiên tòa xét xử đến lần thứ 2 nhưng chị T đều vắng mặt không có lý do. Do đó, vụ án đưa ra xét xử vắng mặt chị T theo quy định tại các điều 227, 228 BLTTDS.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Võ Văn N và chị Trần Thị T là hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh N và chị T sống hạnh phúc được một thời gian dài, đến tháng 3 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do công việc kinh tế của gia đình gặp nhiều khó khăn và đã chính thức sống ly thân từ tháng 3 năm 2019 đến nay. Hơn nữa, từ ngày ly thân đến nay anh chị cũng không có tới lui để hàn gắn tình cảm. Mặt khác, trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, anh N xác định tình cảm vợ chồng không còn với chị T và vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Chị T vẫn biết việc anh N xin ly hôn với chị nhưng chị vẫn không gửi văn bản thể hiện ý kiến hàn gắn và cũng không đến Tòa án để xin hàn gắn tình cảm. Qua đó, xét thấy mâu thuẫn giữa anh N và chị T là trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của anh N với chị T là có căn cứ phù hợp với quy định tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Xét yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Võ Thị D, sinh ngày 21/12/2003 của anh N; Hội đồng xét xử xét thấy từ khi anh N và chị T sống ly thân thì cháu D vẫn do anh N nuôi dưỡng. Đồng thời, tại biên bản lấy ý kiến ngày 15/8/2019 của Tòa án, cháu D có nguyện vọng sống với cha. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết để cháu D cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định các điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Ghi nhận sự tự nguyện của anh N không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), anh Võ Văn N phải nộp theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56; 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Võ Văn N đối với chị Trần Thị T.

2. Về con chung: Anh Võ Văn N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Võ Thị D, sinh ngày 21/12/2003 (phù hợp với biên bản lấy ý kiến cháu D ngày 15/8/2019 của Tòa án). Ghi nhận sự tự nguyện của anh N không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Chị Trần Thị T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: không có.

4. Về nợ chung: Không có.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), anh Võ Văn N phải nộp và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004975 ngày 11/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bến Tre. Án phí hôn nhân, anh N đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho anh Võ Văn N biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng chị Trần Thị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật , để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ