- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Việt Dũng - Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (đi…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH _______________________ Bản án số: 90/2018/HSST Ngày: 17/8/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Đoàn Phương Thảo
- Ông Nguyễn Huy Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuấn, Thư ký Tòa á n nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Vy Đứ c Hạnh, Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 17 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2018/HSST ngày 23/7/2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2018/HSST- QĐ ngày 02/8/2018 đối với bị cáo:
̃
Họ và tên: NGUYÊN VIỆT D (tên gọi khác: Không) Sinh ngày: 04/3/1972 tại huyê ̣n C, tỉnh T. Nơi ĐKHKTT: Thôn 5, xã N, huyê ̣n C, tỉnh T. Chỗ ở: Khu H, phườ ng N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Trình độ văn hoá: 11/12.
Nghề nghiệp: Không.
Quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; Dân tô ̣c: Kinh;
Tôn giáo: Không. Con ông: Nguyễn Vinh B, sinh năm 1941. Con bà: Ngô Thi ̣ Q, sinh năm 1947. Có vợ: Phùng Thị P, sinh năm 1974. Con: Có 02 con, lớ n sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2000.
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Nhân thân: Ngày 07/6/2000, bị Tòa án nhân dân thị xã ( nay là thành phố T) xử pha ̣t 18 tháng tù về tội : "Đưa hối lộ" .
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 16/6/2018, hiê ̣n ta ̣m giam ta ̣i Nhà ta ̣m g iữ Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
Người làm chứng: Anh Pha ̣m Văn H , sinh năm 1960. Địa chỉ: Khu H, phườ ng H, thành phố M, tỉnh Q. - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngà y 16/6/2018, Nguyễn Viê ̣t D đi đến khu vực cổng Trung tâm y tế thành phố M thi gă ̣p đối tượng C (không rõ lai li ̣ch, đi ̣a chi). C rủ̉
̀ D cùng đi lấy ma túy sử du ̣ng , D đồng ý và được C đưa đến cử a số n hà 46, đườ ng T, thuô ̣c khu 2, phườ ng H, thành phố M . Tại đây C bảo D đến chỗ gốc cây ở g ần đó lấy gói ma túy do C giấu dướ i viên ga ̣ch để cả hai cùng sử du ̣ng . Theo chi dẫn củ
̉a C, D đến lấy mô ̣t gói ma túy ở dưới viên ga ̣ch rồi quay la ̣i chỗ C thì bị Tổ công tác Công an phườ ng H đến kiểm tra. Thấy vâ ̣y, C điều khiển xe mô tô bỏ cha ̣y, còn D thả gói ma túy đang cầm trên tay xuống đất nhưng bị phát hiê ̣n, bắt quả tang. Thu giữ của D 01 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhâ ̣n: Bị cáo nhận lời đối tượng C đi đến gốc cây trướ c cử a số nhà 46, đườ ng T, thuô ̣c khu 2, phườ ng H để lấy gói ma túy C giấu dướ i viên ga ̣ch để cả hai cùng sử du ̣ng. Khi bi ̣ cáo lấy được gói ma túy theo sự chỉ dẫn của C cầm trên tay thì bị kiểm tra phát hiện bắt quả tang , còn C bỏ chạy. Viê ̣c bi ̣ cáo tàng trữ trái phép 01 gói ma túy bi ̣ bắt giữ là đúng ngườ i, đúng tô ̣i.
Người làm chứ ng anh Phạm Văn H có lời khai thể hiện: Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 16/6/2018, khi anh đang đổ xăng thi thấy lực lượng Công an kiểm tra
̀
mô ̣t nam thanh niên , khi được kiểm tra ngườ i thanh niên trên liền thả mô ̣t gói giấy màu trắng từ tay phải của anh ta xuống đất ngay dướ i chân, lực lượng Công an kiểm tra gói giấy anh thả thấy bên trong có chứ a chất bô ̣t màu trắng nghi là ma túy. Tại trụ sở cơ quan Công an người thanh niên khai tên là Nguyễn Viê ̣t D và chất bột trong gói giấy thu giữ là ma túy heroine anh ta lấy ở gố c cây để cùng đối tượng C sử du ̣ng thi bi ̣ phát hiê ̣n bắt giữ . Viê ̣c đối tượng D khai báo là
̀ hoàn toàn tự nguyện.
Tại bản kết luận giám định số 480/GĐMT ngày 19/6/2018, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất bô ̣t màu trắng trong 01 gói giấy ghi thu của Nguyễn Viê ̣t D gử i giám định là ma túy; loại Heroine; Khối lượng 0,315gam (không phẩy ba mô ̣t năm gam).
Bản cáo trạng số 95/CT - VKSMC ngày 22/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Viê ̣t D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền Công tố luận tội và tranh luận thể hiê ̣n : Bị cáo Nguyễn Việt D tàng trữ 01 gói ma túy có khối lượng 0,315gam mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt giữ . Do đó,Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Viê ̣t D. Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng , tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử pha ̣t Nguyễn Viê ̣t D từ 15 đến 18 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ , tạm giam , ngày 16/6/2018. Không áp du ̣ng hinh pha ̣t bổ sung đối vớ i bi ̣ cáo; Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều
̀ 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bi niêm phong chứ a mẫu vâ ̣t là ma túy hoàn la ̣i sau giám
̀ đi ̣nh.
Bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và
bản luận tội của đại diện Vi ện kiểm sát, không có ý kiến tranh luâ ̣n vớ i bản luâ ̣n tô ̣i.
Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒ A Á N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền , trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự . Quá trình điều tra và tại phiên tòa , bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các hành vi , quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Do được đối tượng C rủ đi lấy ma túy để cả hai cùng sử du ̣n g, bị cáo đã đồng ý. Khi đối tượng C chở bi ̣ cáo đi đến gốc cây trướ c cử a số nhà 46, đườ ng T, thuô ̣c khu 2, phườ ng H để lấy 01 gói ma túy C giấu dướ i viên ga ̣ch, bị cáo cầm gói ma túy trên tay thì bị kiểm tra phát hiê ̣n bắt quả tang, còn C bỏ chạy. Lời khai của bị cáo tại phiên Tòa phù hợp vớ i lờ i khai ta ̣i cơ quan điều tra ; phù hợp với lời khai ngườ i làm chứ ng, bản kết luận giám định số 480/GĐMT ngày 19/6/2018 cùng các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Hành vi bị cáo D thực hiện là nhận lời đối tượng C đi lấy ma túy để cả hai cùng sử dụng, số ma túy thu giữ của bị cáo được giám định là ma túy; loại Heroine; Khối lượng 0,315gam (không phẩy ba mô ̣t năm gam) đã thỏa mãn tình tiết quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Viê ̣t D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng do ăn chơi, đua đòi bi ̣ cáo đa tàng trữ, sữ
̉ du ̣ng, bất chấp các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t . Hành vi của bị cáo đã ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn thành phố M, do đó việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và cần phải có hình phạt nghiêm đối với bị cáo. Khi quyết định hình phạt, xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2000 bị Tòa án nhân dân thị xã T (nay là thành phố T) xử pha ̣t 18 tháng tù, về tô ̣i "Đưa hối lộ ". Tuy nhiên đa đượ̃
c xóa án tich nên không coi là tinh tiết
́
̀ tăng nă ̣ng trách nhiê ̣m hinh sự.
̀
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo đi lấy ma túy theo chi dẫn củ
̉a đối tượng C để cả hai sử du ̣ng cho bản thân , không có mu ̣c đich vu ̣ lợi nên không
́ cần thiết áp du ̣ng hinh pha ̣t bổ sung đối vớ i bi ̣ cáo.
̀
[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M chuyển theo hồ sơ vụ án gồm: 01 phong bi được niêm phong theo đúng quy đi ̣nh
̀
của pháp luật , còn nguyên vê ̣n. Bên ngoài ghi số 480/GĐMT, bên trong đựng mẫu vâ ̣t do Phòng Ky thuâ ̣̃
t hinh sự - Công an tinh Quảng Ninh hoàn lại saủ
̀ giám định. Đây là chất ma t úy thu giữ của bị cáo D giám định sau hoàn lại mẫu vâ ̣t, là vật nhà nước cấm lưu hành do đó cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, đã được cơ quan Điều tra thu thập theo đúng thủ tục, trình tự mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận có thực hiện hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát, nên lời buộc tội của Kiểm sát viên về các tình tiết tăng nă ̣ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng đối với bị cáo D là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy đi ̣nh tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự và điểm a khoản
̀ 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử dụng án ph í và lệ phí Tòa án.
[9] Về quyền kháng cáo : Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[10] Liên quan trong vụ án, còn có đối tượng tên C rủ D đi lấy ma túy cùng sử du ̣ng, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo:
Nguyễn Viê ̣t D - tên gọi khác: Không.
Phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Viê ̣t D 18 (mườ i tám ) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị ta ̣m giữ , tạm giam ngày 16/6/2018.
2. Về xử lý vật chứng. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bi được niêm phong theo đúng quy đi ̣nh của
̀
pháp luật, còn nguyên vê ̣n. Bên ngoài ghi số 480/GĐMT, bên trong đựng mẫu vâ ̣t do Phòng Ky thuâ ̣̃
t hinh sự - Công an tinh Quả
̉ng Ninh hoàn la ̣i sau giám
̀ đi ̣nh kèm theo Kết luận gián định số 480/GĐMT.
(Hiện trạng vật chứng được miêu tả theo Lê ̣nh xuất kho vâ ̣t chứ ng số 138 ngày 23/7/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M và biên bản giao nhận vật chứng số 111/2018/THA ngày 23/7/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh Quảng Ninh).
3. Về án phí. Áp dụng: Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buô ̣c bị cáo Nguyễn Viê ̣t D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo. Áp dụng: khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Báo cho bị cáo Nguyễn Viê ̣t D biết có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 17/8/2018.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thành phố M; - Công an thành phố M; - Bị cáo; - Sở tư pháp; - Thi hành án; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Vũ Thị Thanh Phƣơng |