- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trần Đức T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trần Đức T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2018/HSST Ngày: 28/11/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bế Lan Phương
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đức Dũng và ông Nông Văn Vụ
Thư ký phiên tòa: Ông Lục Trường Anh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Nha - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/ 2018/ HSST ngày 15 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2018/QĐXXST-HS ngày 15/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:
Trần Đức T, sinh ngày 25/10/1977 tại thành phố C;
Giới tính: nam; HKTT: tổ H, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; chỗ ở: tổ M, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; dân tộc: kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Trần Minh T, sinh năm 1949; con bà: Trương Thị V, sinh năm 1952; cùng trú tại: tổ H, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có 2 anh em, bị cáo là con cả trong gia đình; vợ: NôngThị Ngọc L, sinh năm 1978; hộ khẩu thường trú: tổ 0, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng (đã ly hôn năm 2015); con: có 1 con sinh năm 2001; hộ khẩu thường trú: tổ 0, phường S, thành phố C ,tỉnh Cao Bằng; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2018 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Nguyễn Trường G, sinh năm 1974; Hộ khẩu thường trú: tổ M, phường H, thành phố C; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ ngày 27 tháng 8 năm 2018 Trần Đức T đi ra bến xe khách thành phố C để tìm mua ma túy Methamphetamine về sử dụng, khi đến nơi T có gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi không biết tên địa chỉ T hỏi người đàn ông đó "có đá không" để cho 900.000đ (chín trăm nghìn đồng), người đó đồng ý và T đưa cho 900.000đ (chín trăm nghìn đồng), người đó cầm tiền và bảo T đứng chờ rồi đi đâu đó, khoảng 05 phút sau quay lại đưa cho T 01 gói ma túy được gói bằng nilon màu trắng bên trong chứa Methamphetamine, T cầm gói ma túy Methamphetamine về phòng trọ ở tổ M, phường S, đến khoảng 22 giờ cùng ngày T lấy gói ma túy Methamphetamine ra chích lấy một ít về sử dụng, khi đang sử dụng thì có Nguyễn Trường G đến chơi nên T có mời G cùng sử dụng ma túy Methamphetamine. Khi hai người đang sử dụng thì bị Công an bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: 01 gói nhỏ nilon màu trắng bên trong chứa Methamphetamine do Trần Đức T tự giác giao nộp có khối lượng là: 0,67g (không phẩy sáu bảy gam); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu tím đen, 01 điện thoại Iphone màu hồng và số tiền 810.000đ (tám trăm mười nghìn đồng) thu giữ ở túi quần đằng sau chiếc quần T đang mặc, 01 bình thủy tinh cao 17cm là dụng cụ để sử dụng ma túy. Toàn bộ số vật chứng nêu trên đã được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 19/9/2018, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 143 đối với vật chứng vụ án. Tại Bản kết luận giám định số 5220/GĐMT ngày 28/9/2018 của Viện khoa học hình sự Bộ công an kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine
Hành vi của Trần Đức T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại bản Cáo trạng số: 90/CT-VKSTP ngày 14/11/2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Trần Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa bị cáo cáo Trần Đức T thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với trọng lượng ma túy bị thu giữ và nội dung bản kết luận giám định số: 5220/GĐMT ngày 28/09/2018 củaViện khoa học hình sự Bộ công an.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Trần Đức T từ 14 tháng đến 16 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) bình thủy tinh màu trắng (dụng cụ sử dụng ma túy) và 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn trả sau khi giám định có số 5220/C09(TT2) của Viện khoa học hình sự.
Hoàn trả lại cho bị cáo số tài sản gồm: 01 (một) điện thoại di động màu đen nhãn hiệu SAM SUNG trong bì niêm phong ghi vụ Trần Đức T sinh năm 1977. 01 (một) điện thoại di động màu hồng nhãn hiệu IPHONE trong bì niêm phong ghi vụ Trần Đức T sinh năm 1977 và số tiền 810.000 đồng (tám trăm mười nghìn đồng) trong bì niêm phong ghi vụ Trần Đức T sinh năm 1977 vì không liên quan đến hành vi phạm tội. Nhưng đối với số tiền trên cần được tạm giữa tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng để đảm bảo việc thi hành án.
Về án phí: áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được đoàn tụ cùng gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội và điều khoản xét xử: tại cơ quan điều tra cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: hồi 23 giờ ngày 27/08/2018 tại tổ M, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, Trần Đức T có hành vi tàng trữ 01 gói Methamphetamine có khối lượng là 0,67g (không phẩy sáu bảy gam) mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vẫn bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo là người nghiện ma túy, về nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1; bố đẻ của bị cáo (ông Trần Minh T) là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng: Huy chương kháng chiến hạnh Nhất, Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Nhì, Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Ba nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt chính: căn cứ vào nhân thân của bị cáo; tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung trong xã hội. Mức đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp, cần được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…” . Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có thu nhập. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với Nguyễn Trường G được T cho sử dụng ma túy cùng, qua điều tra chưa có tiền án, tiền sự về ma túy, không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
Trong vụ án này về nguồn gốc số ma túy T khai mua với một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không biết tên và địa chỉ) ở khu vực Bến xe khách thành phố C, việc mua bán không ai biết nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đang tiến hành điều tra xác minh làm rõ, nếu có đủ căn cứ sẽ xử lý trong vụ án khác.
Về xử lý vật chứng:
Đối với số vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần xử hoàn trả lại cho bị cáo gồm: 01 (một) điện thoại di động màu đen nhãn hiệu SAM SUNG trong bì niêm phong ghi vụ Trần Đức T sinh năm 1977; 01 (một) điện thoại di động màu hồng nhãn hiệu IPHONE trong bì niêm phong ghi vụ Trần Đức T sinh năm 1977 và số tiền 810.000 đồng (tám trăm mười nghìn đồng) trong bì niêm phong ghi vụ Trần Đức T sinh năm 1977. Nhưng đối với số tiền trên cần được tạm giữa tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố cao bằng để đảm bảo việc thi hành án.
Còn lại số vật chứng gồm: 01 (một) bình thủy tinh màu trắng (dụng cụ sử dụng ma túy) và 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn trả sau khi giám định có số 5220/C09(TT2) của Viện khoa học hình sự là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Số vật chứng trên hiện nay đang lưu giữ tại kho tang vật của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/9/2018 và ngày 25/10/2018.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: bị cáo Trần Đức T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Trần Đức T - 15 (mười năm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 28/8/2018.
Áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định
tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bình thủy tinh màu trắng (dụng cụ sử dụng ma túy) và 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn trả sau khi giám định có số 5220/C09(TT2) của Viện khoa học hình sự.
- Trả lại cho bị cáo Trần Đức T số tài sản gồm:
+ 01(một) điện thoại di động màu đen nhãn hiệu SAM SUNG trong bì niêm phong ghi vụ Trần Đức T sinh năm 1977;
+ 01 (một) điện thoại di động màu hồng nhãn hiệu IPHONE trong bì niêm phong ghi vụ Trần Đức T sinh năm 1977;
+ Số tiền 810.000 đồng (tám trăm mười nghìn đồng) trong bì niêm phong ghi vụ Trần Đức T sinh năm 1977. Nhưng đối với số tiền trên cần được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng để đảm bảo việc thi hành án.
Số vật chứng trên hiện nay đang lưu giữ tại kho tang vật của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/9/2018 và ngày 25/10/2018.
3. Về án phí: áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Trần Đức T chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh Cao Bằng; - Công an tỉnh Cao Bằng; - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng; - Viện kiểm sát TP Cao Bằng; - Công an TP Cao Bằng; - Thi hành án DS TP Cao Bằng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bế Lan Phƣơng |