vanban.org

Bản án 90/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội Tuyên án 16/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

*Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; khoản 1, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 55; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo DĐQ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và "Mua bán trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo DĐQ 02 (hai) năm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 03 (ba) năm về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Tổng hợp hình phạt của 02 tội Buộc bị cáo DĐQ phải chấp hành hình phạt chun… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "DĐQ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và "Mua bán trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? *Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; khoản 1, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 55; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 21 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành ch…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀI ĐỨC
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90 /2018/HSST
Ngày 16 tháng 10 năm 2018.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Huy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Xuân Lưu.

2. Bà Nguyễn Thị Lan.

- Thƣ ký phiên toà: Ông

Như Hoàng Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện K sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Tống Thị Thu Hiền - K sát viên Viện K sát nhân dân huyện Hoài Đức – Thành phố Hà Nội.

Ngày 16 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 96/2018/HSST ngày 21 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2018/QĐXX-ST ngày 03 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

DĐQ, sinh năm 1993 tại huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; HKTT: Thôn VC, xã VC, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông DĐL và bà NTĐ; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 30/6/2018 đến nay, tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh NTT, sinh năm 1985;

Trú tại: Tổ dân phố HV, thị trấn QO, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.

2. Anh NVT, sinh năm 1992;

Trú tại: Thôn VC, xã VC, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

3. Anh NTĐ, sinh năm 1988;

Trú tại: Thôn VC, xã VC, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

4. Anh PĐK, sinh năm 1991;

Trú tại: số 310 VH, P. TV, Q. Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên

tòa;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 25 phút ngày 30/06/2018, Công an huyện Hoài Đức bắt quả tang DĐQ, sinh năm 1993 (HKTT: Thôn VC, xã VC, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội) đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý tại phòng trọ của NTT, sinh năm 1985 (HKTT: Tổ dân phố HV, thị trấn QO, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội) do Thịnh thuê lại của gia đình ông bà NTĐ và NTMT ở thôn QT, xã VC, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Tang vật thu giữ gồm:

- Thu giữ trong túi xách giả da màu nâu của Q để ở đầu hồi phòng trọ 01 (một) vỏ lọ kẹo cao su nhãn hiệu DOUBLEMINT bên trong có chứa 03 túi nilon gồm: 01 (một) túi nilông có kích thước khoảng (2,5x2,5)cm bên trong chứa 04 (bốn) viên nén màu xanh có hình chiếc khiên, 01 (một) túi nilông có kích thước khoảng (2,5x2,5)cm bên trong chứa 02 (hai) viên nén màu xanh có hình chiếc khiên và 01(một) túi nilông kích thước khoảng (5x4)cm bên trong chứa 04 (bốn) viên nén màu xanh có hình chiếc khiên Q khai là ma tuý “tổng hợp”, tổng số là 10 viên.

- Thu giữ trong chiếc ví giả da màu đen của Q để ở đầu giường Q đang nằm 04 (bốn) túi nilông có kích thước khoảng (1,5x1,5)cm và 02 (hai) túi nilông có kích thước khoảng (2,5x2,5)cm, bên trong đều chứa tinh thể màu trắng Q khai là ma tuý “đá” Methamphetamine.

- 01 (một) túi xách giả da màu nâu có chữ Jeep.

- 01 (một) chiếc ví giả da màu đen.

- 01 (một) vỏ lọ kẹo cao su DOUBLEMINT.

- 01 (một) điện thoại di động Nokia số seri: 354496099477988.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng số IMEI: 352090070613935.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám số IMEI: 352033066151296.

- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Exciter biển K soát: 29E2-240.07, số máy: 322554.

- Số tiền 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng).

Tại cơ quan điều tra DĐQ khai nhận:

Do nghiện ma túy nên khoảng 20 giờ ngày 25/06/2018, DĐQ đi ra khu vực cầu Sông Đáy thuộc xã Vân Côn, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, gặp và hỏi mua được của một nam thanh niên tên “Tú” (không biết rõ tên tuổi, địa chỉ) 10 (mười) viên nén ma tuý tổng hợp “kẹo” màu xanh hình chiếc khiên với giá 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) với mục đích bán lấy lãi để lấy tiền mua ma túy sử dụng cho bản thân và 01 (một) túi nilông chứa ma tuý “đá” với giá 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng) với mục đích tang trữ để Q sử dụng. Sau khi mua được ma tuý, Q mang về nhà của mình tại Thôn VC, xã VC, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội để cất giữ. Sau đó, Q lấy túi ma tuý “đá” mua được, bỏ ra một ít để sử dụng và cho NVT, sinh năm 1992 (HKTT: Thôn VC, xã VC, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội) một ít được gói trong gói nhỏ để sử dụng. Đến khoảng 01 giờ ngày 30/06/2018, Q điều khiển xe máy nhãn hiệu Exciter biển K soát: 29E2-240.07 đến phòng trọ của NTT chơi và Q cất chiếc túi xách giả da màu nâu Q mang đi bên trong có 01 (một) vỏ lọ kẹo cao su nhãn hiệu DOUBLEMINT bên trong có chứa 03 túi nilon gồm: 01 (một) túi nilông có kích thước khoảng (2,5x2,5)cm bên trong chứa 04 (bốn) viên nén màu xanh có hình chiếc khiên, 01 (một) túi nilông có kích thước khoảng (2,5x2,5)cm bên trong chứa 02 (hai) viên nén màu xanh có hình chiếc khiên và 01(một) túi nilông kích thước khoảng (5x4)cm bên trong chứa 04 (bốn) viên nén màu xanh có hình chiếc khiên ở đầu hồi nhà trọ và chiếc ví giả da màu đen bên trong có 04 (bốn) túi nilông có kích thước khoảng (1,5x1,5)cm và 02 (hai) túi nilông có kích thước khoảng (2,5x2,5)cm, bên trong đều chứa tinh thể màu trắng là ma tuý “đá” Methamphetamine Q cất giấu ở đầu giường phòng trọ. Đến khoảng 01 giờ 25 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an K tra phát hiện thu giữ toàn bộ tang vật.

- Đối với số ma tuý “đá” thu giữ trong chiếc ví giả da màu đen của Q, Q khai tàng trữ để sử dụng cho bản thân.

- Đối với 10 (mười) viên nén màu xanh có hình chiếc khiên là ma tuý “tổng hợp” thu giữ trong túi xách giả da màu nâu của Q, Q khai dùng để bán với giá 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) một viên và lãi 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) một viên.

Tại Bản kết luận giám định số 5799/KLGĐ- PC54 ngày 07/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 06 (sáu) túi nilông thu giữ của DĐQ đều là ma tuý loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 2,508 gam; 10 (mười) viên nén màu xanh hình chiếc khiên thu giữ của DĐQ đều là ma tuý loại MDMA, tổng khối lượng 3,964 gam”.

Trong quá trình điều tra, NVT khai đã mua ma túy đá của DĐQ 03 (ba) lần để sử dụng:

- Lần thứ nhất là khoảng 19 giờ ngày 10/06/2018 tại phía sau dãy nhà trọ ở thôn QT, xã VC, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội 01 gói ma túy “ đá”với giá 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

- Lần thứ hai là khoảng 15 giờ ngày 15/06/2018 tại phía sau dãy nhà trọ ở thôn QT, xã VC, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội 01 gói ma túy “ đá”với giá 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

- Lần thứ ba là khoảng 17 giờ ngày 25/06/2018 tại phía sau dãy nhà trọ ở thôn QT, xã VC, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội 01 gói ma túy “ đá”với giá 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng do Tài hết tiền nên đã hỏi Q cho nợ và được Q đồng ý.

Tuy nhiên tại cơ quan điều tra DĐQ không thừa nhận bán ma túy cho NVT và cũng không có tài liệu nào khác chứng minh DĐQ bán ma túy cho NVT. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra cũng không thu được số ma túy mà Tài khai đã mua của Q nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở xác định DĐQ bán ma túy cho NVT.

Đối với NTT là người thuê nhà của ông NTĐ và bà Nguyễn Thị Minh Trang chỉ quen biết DĐQ qua một nhân viên nữ đang thuê trọ tại nhà trọ của Thịnh. Trong thời gian quen biết, NTT có sử dụng ma tuý cùng với Q. Ngày 30/06/2018, Thịnh đang ở phòng trọ thì DĐQ đến chơi, nhưng Thịnh không biết việc Q cất giấu ma túy trong túi xách giả da màu nâu và trong chiếc ví giả da màu đen của Q do vậy Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter biển K soát: 29E2-240.07, số khung: 307450, số máy: 322554 đã thu giữ của DĐQ, quá trình điều tra Q khai mua được của một người đàn ông không quen biết vào ngày 20/06/2018 tại khu vực huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội với giá 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng), không có giấy tờ mua bán và không có giấy tờ đăng ký xe. Tại bản kết luận giám định số 6567/KLGĐ-PC54 ngày 16/08/2018 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: Xe máy nhãn hiệu Yamaha mang biển K soát: 29E2-240.07 có số máy: G3D4E-322554, số khung: RLCUG0610GY307450 là số nguyên thuỷ không nằm trong dữ liệu xe máy vật chứng. Đối với biển K soát 29E2-240.07 là của chiếc xe máy Honda Blade, số máy: JA36E0452239, số khung: RLHJA364XGY025688 chủ sở hữu là anh PĐK có địa chỉ: 324 KT, phường TQ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Tuy nhiên khoảng tháng 04/2018, anh K đã bị mất chiếc xe máy trên và đã trình báo với Công an phường Thổ Quan, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Hiện chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha mang biển K soát: 29E2-240.07 có số máy: G3D4E-322554, số khung: RLCUG0610GY307450 và biển K soát 29E2-240.07 Cơ quan điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án để sử lý theo pháp luật.

Đối với người nam thanh niên tên “Tú” đã bán ma tuý cho Q vào ngày 25/06/2018 tại cầu Sông Đáy thuộc xã Vân Côn, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Đức đã tiến hành điều tra xác minh nhưng không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở để xem xét, xử lý.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra K tra máy điện thoại di động của DĐQ có tin nhắn hỏi mua ma tuý từ số điện thoại 0984191808 được lưu tên trong danh bạ điện thoại là “Tuấn Hợi” vào ngày 29/06/2018 là của Lê Văn Tuấn, sinh năm 1994 (HKTT: Xã Tân Phú, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội) nhưng DĐQ không thừa nhận việc đã bán ma tuý cho Lê Văn Tuấn lần nào.

Cơ quan điều tra xác minh đối tượng trên là Lê Văn Tuấn tại nơi cư trú nhưng Tuấn không có mặt tại địa phương, gia đình không biết Tuấn đang ở đâu nên chưa đủ căn cứ để xử lý; Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Đối với NVT và NTT đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vi phạm khoản 1, Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Do vậy, ngày 05/09/2018, Công an huyện Hoài Đức căn cứ khoản 1, Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với NVT và NTT.

*Tại Bản cáo trạng số 95/CT - VKSHĐ ngày 20 tháng 9 năm 2018 của Viện K sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố

DĐQ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm c, khoản 1, Điều 249 và khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên toà, Đại diện Viện K sát nhân dân huyện Hoài Đức giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249 và khoản 1, Điều 251; khoản 1, Điều 55; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo DĐQ 24 – 30

về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 36 – 42

"Mua bán trái phép chất ma túy". Buộc bị cáo DĐQ phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là từ 60 – 72

;

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong của Công an thành phố Hà Nội. Mặt trước gói niêm phong ghi tên đối tượng DĐQ. Tại các mép dán của gói niêm phong còn nguyên chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng Hùng, cán bộ Nguyễn Xuân Hiếu và đối tượng DĐQ đây là vật cấm lưu hành; 01 (một) túi xách màu nâu dây đeo; 01 (một) chiếc ví màu đen; 01 (một) vỏ lọ kẹo cao su DOUBLEMINT là công cụ phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng;

- Trả lại anh PĐK có địa chỉ: 324 KT, phường TQ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội 01biển K soát xe máy: 29E2-240.07

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước Đối với 01 (một) điện thoại di động Nokia mà xanh model: TA-1010, số seri: 354496099477988 và 01 (một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA, đeo biển K soát: 29E2-240.07, số máy: 322554, số khung: 307450 là công cụ phương tiện phạm tội.

- Trả lại cho bị cáo DĐQ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, bề mặt điện thoại bị rạn nứt, pin máy bị phồng, số IMEI: 352090070613935; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám số IMEI: 352033066151296 và 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng) là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện K sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, K sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi của bị cáo: Với mục đích có chất ma túy để sử dụng nên ngày 30/6/2018, DĐQ đã có hành vi cất giữ 2,508 gam ma túy loại Methamphetamine; Ngoài ra DĐQ còn cất giữ 10 viên nén màu xanh có hình chiếc khiên là ma túy loại MDMA với tổng khối lượng 3,964 gam với mục đích bán để kiếm lời.

. - Hành vi cất giữ 2,508 gam ma túy loại Methamphetamine của bị cáo là hành vi cất giữ bất hợp pháp chất ma tuý trên người mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển chất ma tuý.

- Hành vi cất giữ 10 viên nén màu xanh có hình chiếc khiên là ma túy loại MDMA với tổng khối lượng 3,964 gam của bị cáo là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích mua bán bất hợp pháp chất ma tuý để thu lợi bất chính.

. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về việc quản lý chất ma tuý. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý. Tại thời điểm phạm tội bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.

. Tại phiên toà bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo Bản cáo trạng và Lời luận tội của Viện K sát. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo DĐQ cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm c, khoản 1, Điều 249 và khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa các bị cáo đều“thành khẩn khai báo” và “ăn năn hối cải” về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Toà án xét xử nghiêm minh vụ án nhằm giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm chung.

. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo không có đủ điều kiện để được tự cải tạo ngoài môi trường xã hội bình thường mà cần thiết phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo. Đại diện Viện K sát nhân dân huyện Hoài Đức đề nghị HĐXX áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ, do đó HĐXX áp dụng quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn là phù hợp.

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, chưa thu lời bất chính nên HĐXX không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo việc thi hành án, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam các bị cáo 45 ngày (bốn mươi lăm ngày) kể từ ngày tuyên án.

Đối với người nam thanh niên tên “Tú” đã bán ma tuý cho Q vào ngày 25/06/2018 tại cầu Sông Đáy thuộc xã Vân Côn, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Đức đã tiến hành điều tra xác minh nhưng không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở để xem xét, xử lý.

Cơ quan điều tra xác minh đối tượng trên là Lê Văn Tuấn tại nơi cư trú nhưng Tuấn không có mặt tại địa phương, gia đình không biết Tuấn đang ở đâu nên chưa đủ căn cứ để xử lý; Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Đối với NVT và NTT đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vi phạm khoản 1, Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Do vậy, ngày 05/09/2018, Công an huyện Hoài Đức căn cứ khoản 1, Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với NVT và NTT là đúng quy định của pháp luật.

. Về xử lý vật chứng:

- Đối với: 01 phong bì niêm phong của Công an thành phố Hà Nội. Mặt trước gói niêm phong ghi tên đối tượng DĐQ. Tại các mép dán của gói niêm phong còn nguyên chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng Hùng, cán bộ Nguyễn Xuân Hiếu và đối tượng DĐQ đây là vật cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ;

Trả lại anh PĐK có địa chỉ: 324 KT, phường TQ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội 01biển K soát xe máy: 29E2-240.07

- Đối với 01 (một) túi xách màu nâu dây đeo; 01 (một) chiếc ví màu đen; 01 (một) vỏ lọ kẹo cao su DOUBLEMINT là công cụ phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ;

- Đối với 01 (một) điện thoại di động Nokia mà xanh model: TA-1010, số seri: 354496099477988 và 01 (một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA, đeo biển K soát: 29E2-240.07, số máy: 322554, số khung: 307450 là công cụ phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, bề mặt điện thoại bị rạn nứt, pin máy bị phồng, số IMEI: 352090070613935; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám số IMEI: 352033066151296 và 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng) là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo DĐQ.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

*Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; khoản 1, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 55; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo DĐQ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và "Mua bán trái phép chất ma túy".

- Xử phạt bị cáo DĐQ 02 (hai) năm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 03 (ba) năm về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Tổng hợp hình phạt của 02 tội Buộc bị cáo DĐQ phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm , thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2018.

* Về xử lý vật chứng:

điểm b, khoản 2, khoản 3, ĐiÒu 106 Bé luËt tè tông H×nh sù;

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước Đối với 01 (một) điện thoại di động Nokia mà xanh model: TA-1010, số seri: 354496099477988 và 01 (một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA, số máy: 322554, số khung: 307450.

-Trả lại anh PĐK có địa chỉ: 324 KT, phường TQ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội 01biển K soát xe máy: 29E2-240.07

- Trả lại bị cáo DĐQ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, bề mặt điện thoại bị rạn nứt, pin máy bị phồng, số IMEI: 352090070613935; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám số IMEI: 352033066151296 và số tiền: 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng).

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:

+ 01 phong bì niêm phong của Công an thành phố Hà Nội. Mặt trước gói niêm phong ghi tên đối tượng DĐQ. Tại các mép dán của gói niêm phong còn nguyên chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng Hùng, cán bộ Nguyễn Xuân Hiếu và đối tượng DĐQ.

+ 01 (một) túi xách màu nâu dây đeo; 01 (một) chiếc ví màu đen; 01 (một) vỏ lọ kẹo cao su DOUBLEMINT.

(Các vật chứng hiện đang bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/9/2018 giữa Công an huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội và Giấy Ủy nhiệm chi ngày 26/9/2018).

* Về án phí:

135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo DĐQ bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: ¸p dông §iÒu 331 và Điều 333 Bé luËt tè tông H×nh sù;

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND nơi họ cư trú.

Cỡ chữ