- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn S - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn S (tên gọi khác: Thạo S) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2018/HS-ST Ngày: 25-10-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Đoàn.
Thẩm phán: Ông Lương Tiến Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Vũ.
Bà Nguyễn Thị Khuyên.
Bà Kháng Mai Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Hải Nam, Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên số: 96/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Lò Văn S (tên gọi khác: Thạo S), sinh năm: 1962, tại tỉnh Phong Sa Lỳ, nước CHDCND Lào. Nơi cư trú: Bản N, cụm S, huyện M, tỉnh Phong Sa Lỳ, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 3 xóa mù chữ phổ thông Lào; dân tộc: Lào Lum; quốc tịch: Lào; tôn giáo: Đạo phật; con ông: Lò Văn T (đã chết) và bà: Nang L (đã chết); có vợ: Nang B, sinh năm: 1965 và 04 con, con lớn sinh năm 1984, con nhỏ sinh năm 1995; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 19/01/2018 đến ngày 25/01/2018 tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn S: Ông Phạm Đình K, Luật sư Văn phòng Luật sư Thái Sơn, Đoàn Luật sư tỉnh Điện Biên, có mặt.
- Người phiên dịch tiếng Lào cho bị cáo: Ông Lô Quang T, sinh năm: 1956, có mặt.
Trú tại: Số nhà a, tổ b, phường M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 19/01/2018, tại bãi chăn thả gia súc gần mốc 105 biên giới Việt Nam - Lào thuộc địa phận xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Điện Biên phát hiện và thu giữ của Lò Văn S 346,45 gam Heroine và 1.649,68 gam Methamphetamine. Mục đích của bị cáo mang đi để bán cho một người tên là P nhà ở thị xã M, tỉnh Điện Biên. Nguồn gốc số ma túy đó là do bị cáo tìm và mua được của một người tên là T với giá 50.000.000 đồng/01 bánh Heroine và 75.000.000 đồng/01 bánh Methamphetamine. Sau khi mua xong bị cáo mang sang Việt Nam định bán cho đối tượng tên là P. Đến 14 giờ ngày 19/01/2018, bị cáo bị phát hiện và thu giữ cùng toàn bộ vật chứng vụ án.
Tổng khối lượng hai chất ma túy thu giữ của Lò Văn S là 1.996,13 gam.
Tại bản Kết luận giám định số: 251/GĐ-PC54, ngày 31/01/2018, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận:
“- Mẫu chất bột màu trắng trích từ vật chứng thu giữ của Lò Văn S gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.
- Mẫu các viên nén màu hồng, màu xanh trích từ vật chứng thu giữ của Lò Văn S gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine.
Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn S bao gồm 346,45 gam Heroine và 1.649,68 gam Methamphetamine.”.
Tại bản Cáo trạng số: 47/CT-VKS-P1 ngày 03/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Lò Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS, xử phạt bị cáo Lò Văn S tù Chung thân.
Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251/BLHS đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47/BLHS, Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bánh Heroine có khối lượng 346,45 gam, đã trích mẫu: 2,13 gam, còn lại: 344,32 gam và 90 túi có 17.882 viên Methamphetamine có tổng khối lượng 1649,68 gam, đã trích mẫu: 40,5 gam, còn lại: 1609,18 gam; 01 túi xác rắn màu trắng có quai đeo và 01 túi nilon màu đen thu giữ của Lò Văn S; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động loại bàn phím màu xanh đen nhãn hiệu NOKIA, model: 105 cũ đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn S.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng và bản luận tội của Kiểm sát viên. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm vì tại Lào bị cáo cũng sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế của bị cáo cũng gặp nhiều khó khăn, kể từ ngày bị bắt đến nay cũng chưa liên lệ được với gia đình nên khó khăn trong việc nộp tiền án phí.
Người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về tội danh và điều luất mà Viện kiểm sát đã truy tố và bản luận tội của Kiểm sát viên. Đề nghị HĐXX xem xét đến điều kiện sinh sống của bị cáo: Bị cáo sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, am hiểu pháp luật còn nhiều hạn chế, bản thân không được đi học, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, nên đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội. Đề nghị HĐXX miễn án phí cho bị cáo do bị cáo mặc dù ở bên Lào nhưng sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế của bị cáo cũng gặp nhiều khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Công an tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra được ghi nhận tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do biết được việc mua bán trái phép chất ma túy vào Việt Nam thu được nhiều lợi nhuận, bị cáo đã tìm và mua được 01 bánh Heroine với giá 50.000.000 đồng và 03 bánh Methamphetamine với giá 75.000.000 đồng/01 bánh, sau đó, mang sang Việt Nam định bán với giá 60.000.000 đồng/01 bánh Heroine và 90.000.000 đồng/01 bánh Methamphetamine. Đến 14 giờ ngày 19/01/2018, tại bãi chăn thả gia súc gần mốc biên giới 105 Việt Nam - Lào thuộc địa phận xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Điện Biên phát hiện và thu giữ của Lò Văn S 346,45 gam Heroine và 1.649,68 gam Methamphetamine.
Do đó, HĐXX đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lò Văn S đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Đánh giá tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước Việt Nam về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ, vận chuyển, mua bán các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi mua bán trái phép 346,45 gam Heroine và 1.649,68 gam Methamphetamine, tổng khối lượng 1.996,13 gam của bị cáo Lò Văn S đã vi phạm tình tiết định khung được quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo Lò Văn S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi bị bắt, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, căn cứ tính chất hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo phạm tội lần đầu tại Việt Nam, do vậy, Hội đồng xét xử quyết định cần xử phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Ngoài hình phạt chính, theo quy định khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhận chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy nghề nghiệp chính của bị cáo làm nương, không có nguồn thu nhập nào khác, điều kiện kinh tế còn gặp khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) bánh Heroine có khối lượng 346,45 gam, đã trích mẫu: 2,13 gam, còn lại: 344,32 gam và 90 túi có 17.882 viên Methamphetamine có tổng khối lượng 1.649,68 gam, đã trích mẫu: 40,5 gam, còn lại: 1.609,18 gam do đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, mua bán.
+ 01 túi xác rắn màu trắng có quai đeo và 01 túi nilon màu đen thu giữ của Lò Văn S do không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động loại bàn phím màu xanh đen nhãn hiệu NOKIA, model: 105 cũ đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn S do bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án, không có cơ sở để miễn án phí cho bị cáo nên HĐXX thấy rằng bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong vụ án, theo lời khai của bị cáo thì số ma túy đó là do bị cáo mua của người tên là T, sinh sống tại nước Lào và bị cáo định bán cho đối tượng tên là P người Việt Nam, nhưng không biết tên, địa chỉ rõ ràng, do vậy, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này, HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn S (tên gọi khác: Thạo S) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt: Bị cáo Lò Văn S (tên gọi khác: Thạo S) tù Chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2018.
3. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) hộp niêm phong bằng hộp bìa cát tông hình hộp chữ nhật, bên ngoài ghi: Vật chứng thu giữ của: Lò Văn S (tên gọi khác: Thạo S), sinh năm: 1962; nơi cư trú: Bản N, cụm S, huyện M, tỉnh Phong Sa Lỳ, nước CHDCND Lào. Vật chứng gồm: 01 (một) bánh Heroine có khối lượng 346,45 gam, đã trích mẫu: 2,13 gam, còn lại: 344,32 gam và 90 túi có 17.882 viên Methamphetamine có tổng khối lượng 1649,68 gam, đã trích mẫu: 40,5 gam, còn lại: 1609,18 gam.
+ 01 túi xác rắn màu trắng có quai đeo và 01 túi nilon màu đen thu giữ của Lò Văn S.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
01 điện thoại di động loại bàn phím màu xanh đen nhãn hiệu NOKIA, model: 105 cũ đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn S.
(Theo Biên bản bàn giao, nhận vật chứng ngày 04/10/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Điện Biên và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên)
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/10/2018).
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Công an tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên; - Cục THADS tỉnh Điện Biên; - Phòng HC Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Sở Ngoại vụ; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Trọng Đoàn |