- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị Kh - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Kh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KINH MÔN TỈNH HẢI DƯƠNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2018/HS-ST Ngày 26-9-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KINH MÔN – TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Quốc Huy
Bà Đinh Thị Tin
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hiền Lương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 94/2018/TLST – HS ngày 07 tháng 9 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2018/QĐXX-HS ngày 13 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Phạm Thị Kh, sinh năm 1960
Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa:7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn D (đã chết) và bà Bùi Thị T (đã chết), có chồng và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/6/2018 đến ngày 06/7/2018 bị tạm giam tại trại tạm giam Kim Chi – Công an tỉnh Hải Dương; có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Ông Vũ Hữu D, sinh năm 1960.
2. Anh Trần Văn N, sinh năm 1974.
Đều có nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện K, tỉnh Hải Dương.
Đều có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 27/6/2018, Phạm Thị Kh đang ở nhà thì có một người phụ nữ không rõ tên, địa chỉ, đến gặp, giới thiệu là bạn của Vũ Hữu R (là con của Kh hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam thuộc tỉnh Quảng Ninh). Trong quá trình nói chuyện, người phụ nữ này cho Kh 06 túi nilon đựng chất ma túy để Kh bán lấy tiền thăm nuôi R, Kh đồng ý và cất giấu 04 gói ma túy vào vị trí góc nhà gần cửa sổ nhà Kh; còn 02 gói ma túy, Kh cất giấu trong ngăn tủ lạnh đã bị hỏng để gần cửa ra vào.
Đến khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, khi Kh đang ở nhà thì có Phạm Văn H, sinh năm 1991, ĐKHK: Khu 5, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương đến hỏi Kh “Bác có ma túy đá không bán cho cháu 500.000 đồng”. Kh đồng ý và lấy 02 gói ma túy đá để trong tủ lạnh hỏng ra đưa cho H và nhận của H số tiền 500.000 đồng. Vừa lúc này, Tổ công tác thuộc Văn phòng cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Hải Dương phối hợp với công an xã M phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên tay H 02 gói nilon kích thước (01x01)cm, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (được niêm phong ký hiệu 01); thu trên tay phải Phạm Thị Kh số tiền 500.000 đồng (gồm 03 tờ tiền Polime mệnh giá 100.000 đồng và 04 tờ tiền Polime mệnh giá 50.000 đồng).
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Thị Kh, kết quả đã thu giữ 04 gói nilon hình vuông, kích thước (01x01)cm bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng ở góc nhà gần cửa sổ nhà Phạm Thị Kh (được niêm phong ký hiệu 03), Kh khai nhận là ma túy, mục đích để bán.
Tại bản Kết luận giám định số 451/KLGĐ-PC54 ngày 30/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu 01 ghi thu của Phạm Văn H, gửi đến giám định có tổng khối lượng là 0,293gam, là loại Methamphetamine; Chất rắn dạng tinh thể màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu 03 ghi thu trong quá trình khám xét chỗ ở của Phạm Thị Kh gửi đến giám định có tổng khối lượng là 0,410gam, là loại Methamphetamine (Methamphetamine nằm trong Danh mục II, STT 67 – Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất). Hoàn lại đối tượng giám định gồm 0,512 gam Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 95/CT-VKSKM ngày 05/9/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn truy tố bị cáo Phạm Thị Kh về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” . Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo từ 30 đến 33 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/6/2018. Do trước khi phạm tội bị cáo làm ruộng tại địa phương thu nhập thấp, không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b,c khoản 01 điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a,b khoản 02 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Đề nghị cho tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư số 451/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương; Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 500.000 đồng thu giữ của Phạm Thị Kh do phạm tội mà có.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Kinh Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Phạm Thị Kh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Vào 16 giờ 15 phút ngày 27/6/2018, tại chỗ ở của Phạm Thị Kh ở Thôn T, xã M, huyện K, tỉnh Hải Dương, Phạm Thị Kh đã có hành vi bán trái phép cho Phạm Văn H 0,293gam ma túy, là loại Methamphetamine lấy số tiền 500.000 đồng thì bị Tổ công công an tỉnh Hải Dương bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Khám xét tại chỗ ở của Phạm Thị Kh, cơ quan công an tỉnh Hải Dương còn thu giữ được 0,410 gam ma túy, là loại Methamphetamine mà Kh cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời.
Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh trên địa bàn nơi xảy ra tội phạm, là nguyên nhân dẫn đến nhiều tội phạm khác. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, vì hám lợi mà đã bất chấp pháp luật để bán trái phép chất ma túy để lấy tiền. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn truy tố bị cáo Phạm Thị Kh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “ người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo có bố đẻ là ông Phạm Văn D được tặng thưởng huy hiệu chiến sĩ Trường Sơn, có chồng là ông Phạm Hữu Dũng tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc tại tỉnh Lạng Sơn, được tặng kỷ niệm chương nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy trước khi phạm tội, bị cáo đang làm ruộng, thu nhập thấp, không ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: số ma túy là Methamphetamine đã thu giữ trong vụ án, sau khi giám định được Cơ quan giám định hoàn lại 0,512gam được niêm phong trong phong bì thư số 451/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu cho tiêu hủy;Số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo Phạm Thị Kh là số tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước là phù hợp với quy định tại các điểm b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a,b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc HộivÒ mức thu nộp ¸n phí và lÖ phÝ Toµ ¸n,bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tài liệu điều tra không xác định được người phụ nữ cho Phạm Thị Kh ma túy là ai, ở đâu nên cơ quan điều tra, truy tố không có căn cứ xử lý nên không đề cập trong bản án.
Đối với hành vi Phạm Văn H mua 0,293gam ma túy, là loại Methamphetamie của Phạm Thị Kh với mục đích để sử dụng thì khi làm việc với cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương, H đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã truy tìm và xác minh với chính quyền phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương, xác định: Không có người nào có nhân thân, lý lịch như trên. Ngày 22/8/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kinh Môn đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự để tiến hành điều tra.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Áp dụng điểm b, c khoản 01 điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a,b khoản 02 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyếtsố 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội vÒ mức thu nộp ¸n phí và lÖ phÝ Toµ ¸n.
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Kh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo 28 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/6/2018.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu cho tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư số 415/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 500.000 đồng thu giữ của Phạm Thị Kh.
(Vật chứng trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Kinh Môn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Kinh Môn với Chi cục thi hành án dân sự huyện Kinh Môn)
4. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Thị Kh phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Bị cáo; -VKSND huyện Kinh Môn; -VKSND tỉnh Hải Dương; -Chi cục THADS huyện Kinh Môn; -Cơ quan điều tra - Công an huyện Kinh Môn; -Trại tạm giam Kim Chi – Công an tỉnh Hải Dương. -Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; -Lưu: hồ sơ, Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thụy |