vanban.org

Bản án 90/2018/HS-PT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 24/05/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/05/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ vào: Điểm a, khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đắc Hiếu và giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Tuyên bố: Bị cáo Lê Đắc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đắc H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào: Điểm a, khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2018/HS-PT
Ngày 24/5/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Trọng Danh

Các Thẩm phán:

Ông Huỳnh Đức Kỳ

Ông Trần Minh Long

- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Quỳnh Trâm – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Lựu - Kiểm sát viên.

Ngày 24/5/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 77/2018/HSPT 07/5/2018 đối với bị cáo Lê Đắc H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2018/HSST 07/ 4 /2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

-Bị cáo có kháng cáo:

Lê Đắc H - Sinh ngày 04/12/1995 tại thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú: Tổ 21 phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng; trình độ văn hóa: 06/12; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; con ông Lê Đắc H1 (sinh năm: 1975) và bà Bùi Thị M (sinh năm: 1975), gia đình bị cáo có hai anh em, bị can là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án: Chưa; Tiền sự: Ngày 19.5.2015 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng áp dụng dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 tháng. Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/11/2017. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19h10’ ngày 24/11/2017, tại khu vực Kiệt 90 đường H, thuộc phường Đ, quận T, thành phố Đà Nẵng; Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng bắt quả tang Lê Đắc H có hành vi tàng tiữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ:

- Thu trong người Lê Đắc H có 01 gói nylong chứa 10 viên nén màu xanh hình tròn, trên một mặt có khắc chữ “M” (H khai nhận là ma túy thuốc lắc), được niêm phong theo quy định của pháp luật, ký hiệu G1.

- Thu tại vị trí đặt trụ điện gần quán karaoke P, gần nơi H đứng, bên hông kiệt 90 H, thành phố Đà Nẵng có 01 gói nylong chứa 10 viên nén màu xanh hình tròn, trên một mặt có khắc chữ “M” (Hiếu khai nhận là ma túy thuốc lắc); 02 gói nylong bên trong chứa chất rắn màu trắng (Hiếu khai nhận là ma túy hàng khay), được niêm phong theo quy định của pháp luật, ký hiệu G2.

Mẫu G2 được phân thành: 10 viên nén màu xanh trong 01 gói nylong, ký hiệu G2a và Chất rắn màu trắng trong 02 gói nylong, ký hiệu G2b.

Ngoài ra, còn thu giữ của H:

- 01 xe mô tô hiệu Liberty, loại Piaggio màu đen, biển kiểm soát 43C1-425.68.

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng, loại A33w, imei: 860739038255594, có số sim 01216766xxx.

- Số tiền 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng). Cơ quan CSĐT CAQ.Thanh Khê đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Đắc H tại nhà số K146/H22/26 N, phường V, quân T, thành phố Đà Nẵng. Qua khám xét không thu giữ gì.

* Theo bản kết luận giám định số 650/GĐ-MT, ngày 01/12/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận:

- Mẫu viên nên trong gói nilong ký hiệu G1, G2a gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine và MDMA, trọng lượng các viên nén: mẫu G1: 3,061 gam; G2a; 3,123 gam.

- Mẫu chất rắn trong 02 gói nilong ký hiệu G2b gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, trọng lượng chất rắn: 1,367 gam.

Qua điều tra xác định: Lê Đắc H bắt đầu sử dụng ma túy thuốc lắc cách đây hai năm, lần gần nhất sử dụng ma túy là ngày 21.11.2017. Thông qua A (không rõ lai lịch, địa chỉ) là một người bạn quen biết ngoài xã hội, H biết được một người tên Bi (không rõ lai lịch, địa chỉ) bán ma túy thuốc lắc và hàng khay tại kiệt số 86 đường T, thành phố Đà Nẵng. Khoảng 18 giờ ngày 24/11/2017, Lê Đắc H điều khiển xe mô tô hiệu Liberty, loại Piaggio màu đen, biển kiểm soát 43C1-425.xx đi một mình đến kiệt số 86 đường H, thành phố Đà Nẵng mua của Bi 20 viên ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc với giá 6.000.000 đồng và 02 gói ma túy Ketamine với giá 5.000.000 đồng nhằm mục đích sử dụng cùng các bạn trong dịp sinh nhật H sắp đến. Sau đó, H cất giấu số ma túy trên trong người và điều khiển xe 43C1-425.68 đến khu vực kiệt 90 H, phường Đ, Quận T, thành phố Đà Nẵng để tìm bạn sử dụng ma túy. Khi đến địa điểm trên, do cất giấu nhiều ma túy trong người, H lo sợ nên H cất giấu 01 gói nilong chứa 10 viên ma túy thuốc lắc và 02 gói nilong chứa ma túy hàng khay ở góc trụ điện gần quán karaoke P, gần nơi H đứng; còn 01 gói nilong chứa 10 viên ma túy thuốc lắc H cất giấu trong người thì bị Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy nói trên.

Kết quả thử test, Lê Đắc H dương tính với ma túy tổng hợp.

Tại bản án sơ thẩm số 30/2018/HSST ngày 07/4/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã quyết định: Bị cáo Lê Đắc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 194 BLHS 1999, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015.

Xử phạt: bị cáo Lê Đắc H 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/11/2017.

.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý tang vật, án phí và thông báo quyền kháng cáo bản án.

Ngày 10/4/2018, bị cáo Lê Đắc H có đơn kháng cáo với nội dung: xin cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Đắc H có đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ.

Về nội dung đơn kháng cáo thì thấy: Bị cáo Lê Đắc H mua của Bi 20 viên ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc đem cất giấu trong người để tìm bạn cùng sử dụng ma túy. Vì lo sợ có nhiều ma túy giấu trong người bên bị cáo H cất giấu 01 gói nilong chưa 10 viên ma túy và 02 gói chứa ma túy hàng khay ở góc trụ điện gần nơi bị cáo H đứng thì bị Công an quận Thanh Khê bắt quả tang nên Bản án sơ thẩm số 30/2018/HSST ngày 07/4/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 BLHS 1999 là có căn cứ, đúng tội. Bản án sơ thẩm cũng đã xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, vai trò và nhân thân của bị cáo, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Lê Đắc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Đắc H đã thừa nhận Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999 là đúng. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt. Lời khai của bị cáo Lê Đắc H phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định: Vào 18 giờ ngày 24/11/2017, Bị cáo Lê Đắc H mua của Bi 20 viên ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc đem cất giấu trong người để tìm bạn cùng sử dụng ma túy. Vì lo sợ có nhiều ma túy giấu trong người bên bị cáo H cất giấu 01 gói nilong chưa 10 viên ma túy và 02 gói chứa ma túy hàng khay ở góc trụ điện gần nơi bị cáo H đứng thì bị Công an quận Thanh Khê bắt quả tang nên bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như Bản án sơ thẩm số 30 /2018/HSST ngày 07/4/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử là có căn cứ, đúng tội.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Đắc H, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Lê Đắc H đã có hành vi mua và sử dụng ma túy. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, vai trò, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo đồng thời áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên xét thấy cấp sơ thẩm xử là phù hợp nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đắc H, giữ nguyên bản án sơ thẩm như ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ vào: Điểm a, khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đắc Hiếu và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đắc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015

2/ Xử phạt: Bị cáo Lê Đắc H 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 24/11/2017.

3. Về án phí: Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Lê Đắc H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ