- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 08 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 09 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2017/HNGĐ-ST Ngày: 22/12/2017 “Về việc xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Châu Văn Sang.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lƣơng Thị Kim Vân;
2. Bà Hồ Thị Mai Hƣơng.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phan Thị Nhã Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Trong ngày 22 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 623/2017/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2017 về việc “Xin ly hôn, nuôi con và chia tài sản” theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 121/2017/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2017, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thanh T,
sinh năm 1979.
Địa chỉ: ấp 1, xã Tân Hội Trung, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp.
- Bị đơn:
Trần Thanh S,
sinh năm 1979.
Địa chỉ: ấp 1, xã Tân Hội Trung, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Tạm trú: ấp Bình Nhứt, xã Nhị Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
( Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh S vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thanh T trình bày trong đơn khởi kiện ngày 05/9/2017:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh T và anh Trần Thanh S chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hội Trung, huyện Cao Lãnh vào năm 2014.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, giữa chị T và anh S không có tiếng nói chung, vợ chồng không chia sẻ với nhau về những vấn đề khó khăn trong cuộc sống. Bên cạnh đó anh S còn có thái độ thờ ơ lạnh nhạt, vợ chồng không có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Giữa chị T và anh S đã cố hàn gắn tình cảm nhưng không thành, vợ chồng ly thân từ tháng 8 năm 2017 cho đến nay. Nay chị T nhận thấy vợ chồng mâu thuẩn trầm trọng, không thể hàn gắn được, chị T không còn tình cảm với anh S nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh Trần Thanh S.
- Về con chung: không có.
- Về tài sản chung: vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Vợ chồng không thiếu nợ ai, cũng không cho ai nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện ngày 05/9/2017 của chị và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn, địa chỉ của bị đơn anh Trần Thanh S tại huyện Cao Lãnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Trần Thanh S là bị đơn trong vụ kiện nhưng anh S vẫn cố tình vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì về việc xin ly hôn của chị T. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh S để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự còn lại theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên Tòa chị T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với chị theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh T và anh Trần Thanh S chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hội Trung, huyện Cao Lãnh vào năm 2014. Hôn nhân giữa anh chị là tự nguyện, hợp pháp.
Theo chị Nguyễn Thanh T trình bày trong đơn khởi kiện thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, giữa anh, chị không có tiếng nói chung, vợ chồng không chia sẻ với nhau về những vấn đề khó khăn trong cuộc sống. Bên cạnh đó anh S còn có thái độ thờ ơ lạnh nhạt, vợ chồng không có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Giữa chị T và anh S đã cố hàn gắn tình cảm nhưng không thành, vợ chồng ly thân từ tháng 8 năm 2017. Nay chị T nhận thấy vợ chồng mâu thuẩn trầm trọng, không thể hàn gắn được, chị T không còn tình cảm với anh S nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh Trần Thanh S.
Khi giải quyết vụ kiện, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập anh Trần Thanh S tham gia phiên hòa giải, phiên tòa nhưng anh S vắng mặt không có lý do cũng như không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị T. Xét thấy giữa chị T và anh S không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không ai có thiện chí hàn gắn tình cảm trong thời gian ly thân. Như vậy, mục đích hôn nhân của chị T và anh S không đạt được. Nay chị T yêu cầu được ly hôn với anh S là có căn cứ để chấp nhận.
- Về con chung: không có.
- Về tài sản chung: vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Chị T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
* Về trách nhiệm chịu án phí:
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí - lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 28, 35, 39 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 08, 09, 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thanh T.
+ Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh T được ly hôn với anh Trần Thanh S.
+ Về con chung: không có.
+ Về tài sản chung: vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
+ Về nợ chung: không có.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo biên lai số 16316 ngày 30 tháng 10 năm 2017 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án anh S, chị T được quyền kháng cáo lên Tòa án tỉnh Đồng Tháp.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND HCL; - Đương sự; - Chi cục THADS HCL; - Lưu HSVA. HỘI THẨM NHÂN DÂN Lƣơng Thị Kim Vân - Hồ Thị Mai Hƣơng | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Văn Sang THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Văn S |