- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Kim H đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T:
- Căn cứ chính? Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 893/2023/HNGĐ-ST Ngày: 08-6-2023 V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Trịnh Minh Đức
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Quang Việt;
2. Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Viết Nhiên – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thúy Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 08/6/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 344/2022/TLST-HNGĐ ngày 11/7/2022 về “Tranh chấp ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1613/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/4/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5418/2023/QĐHPT – HNGĐ ngày 08/5/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đỗ Kim H, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Số 3/12, Phường X, Quận Y, Thành phố H.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1992.
Địa chỉ tại nước Nhật Bản: Saitamaken Saitamashi Minumaku Qya 1414 – 2 – 201, Japan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản khai, nguyên đơn ông Đỗ Kim H trình bày:
Ông Đỗ Kim H và bà Nguyễn Thị T kết hôn năm 2012, đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận đã kết hôn ngày 02/11/2012 do Chính quyền quận Minuma, thành phố Saitama, tỉnh Saitama, Nhật Bản cấp; Đã ghi chú vào sổ việc kết hôn đã đăng ký trước Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo sổ đăng ký kết hôn số 04 quyển số 01/2013 ngày 10/01/2013 của Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do quan niệm sống và cách nhìn nhận cuộc sống không phù hợp, mặc dù hai bên đã cố gắng cải thiện nhưng vẫn không thể sống chung. Hai bên đã sống ly thân, ông Đỗ Kim H trở về Việt Nam sinh sống và làm việc, bà Nguyễn Thị T vẫn sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, ông Đỗ Kim H yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thị T.
Con chung: Không có.
Tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố H đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ số 596/UTTPDS-TA30 ngày 29/8/2022; Thông báo về việc thụ lý vụ án, ngày mở phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa xét xử vụ án dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị T biết theo quy định của pháp luật.
Ngày 21/02/2023, Tòa án nhân dân Thành phố H nhận được biên bản xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản xác nhận ngày 03/10/2022 đã niêm yết nội dung ủy thác tư pháp đối với bà Nguyễn Thị T tại trụ sở Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản.
Ngày 08/5/2023, Tòa án nhân dân Thành phố H mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất; Bà Nguyễn Thị T vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa sơ thẩm lần thứ hai:
Ông Đỗ Kim H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, bà Nguyễn Thị T vắng mặt không có lý do lần thứ hai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với các đương sự vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng.
Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa ông Đỗ Kim H và bà Nguyễn Thị T không còn tồn tại, mỗi người sinh sống một nơi, không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, không có sự chia sẻ, thực hiện các công việc trong một gia đình; khả năng đoàn tụ không có. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của ông Đỗ Kim H ly hôn bà Nguyễn Thị T; Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố H, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Kim H yêu cầu ly hôn đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T, đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn theo yêu cầu của một bên” theo quy định tại Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thuộc trường hợp “Ly hôn” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn bà Nguyễn Thị T đang cư trú tại nước Nhật Bản nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên Tòa án nhân dân Thành phố H theo quy định tại Điều 35, Điều 37, Điều 38, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét sự vắng mặt của nguyên đơn ông Đỗ Kim H và bị đơn bà Nguyễn Thị T tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn ông Đỗ Kim H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố H đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ số 596/UTTPDS-TA30 ngày 29/8/2022; Thông báo về việc thụ lý vụ án, ngày mở phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa xét xử vụ án dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị T biết theo quy định của pháp luật.
Ngày 21/02/2023, Tòa án nhân dân Thành phố H nhận được biên bản xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản xác nhận ngày 03/10/2022 đã niêm yết nội dung ủy thác tư pháp đối với bà Nguyễn Thị T tại trụ sở Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản.
Ngày 08/5/2023, Tòa án nhân dân Thành phố H mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất; Bà Nguyễn Thị T vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bà Nguyễn Thị T vắng mặt không có lý do lần thứ hai.
Căn cứ Điều 227, Điều 228, Khoản 3 Điều 474 và Khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Kim H đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T, xét thấy:
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đỗ Kim H đã cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình; Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T vắng mặt không có lý do nên được xem bị đơn bà Nguyễn Thị T từ bỏ nghĩa vụ chứng minh theo qui định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn ông Đỗ Kim H cung cấp và Tòa án thu thập để xét xử vụ án.
Quan hệ hôn nhân: Giấy xác nhận số 04/XNKH ngày 10/01/2013 của Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản xác nhận ông Đỗ Kim H và bà Nguyễn Thị T kết hôn theo giấy chứng nhận đã kết hôn ngày 02/11/2012 do Chính quyền quận Minuma, thành phố Saitama, tỉnh Saitama, Nhật Bản cấp, đã ghi chú vào sổ việc kết hôn đã đăng ký trước Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo sổ đăng ký kết hôn số 04 quyển số 01/2013 ngày 10/01/2013 của Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản; Có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Đỗ Kim H và bà Nguyễn Thị T là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Ông Đỗ Kim H yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thị T với lý do sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do quan niệm sống và cách nhìn nhận cuộc sống không phù hợp, mặc dù hai bên đã cố gắng cải thiện nhưng vẫn không thể sống chung. Hai bên đã sống ly thân, ông Đỗ Kim H trở về Việt Nam sinh sống và làm việc, bà Nguyễn Thị T vẫn sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Đối với bà Nguyễn Thị T, Tòa án đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp đúng quy định của pháp luật nhưng bà Nguyễn Thị T không có phản hồi, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy, tình nghĩa vợ chồng giữa ông Đỗ Kim H và bà Nguyễn Thị T không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; điều kiện sống mỗi người mỗi nơi không có sự chia sẻ, thực hiện các công việc trong một gia đình; khả năng đoàn tụ không có nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông Đỗ Kim H ly hôn bà Nguyễn Thị T theo quy định tại Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Ông Đỗ Kim H trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Đỗ Kim H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tại phiên tòa: Như nhận định nêu trên xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 40, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 474, Điều 477 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 121 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Kim H đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T:
1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Kim H ly hôn bà Nguyễn Thị T.
Giấy xác nhận số 04/XNKH ngày 10/01/2013 của Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản cấp cho ông Đỗ Kim H và bà Nguyễn Thị T không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Không xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Đỗ Kim H phải chịu là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002600 ngày 07/7/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố H.
5. Về quyền kháng cáo bản án:
Ông Đỗ Kim H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Bà Nguyễn Thị T cư trú ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.H; - VKSND cấp cao tại TP.H; - VKSND TP.H; - Cục THADS TP.H; - Các đương sự; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Trịnh Minh Đức |