- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Nguyễn Văn D:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật phí và lệ phí Tòa án; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 890/2020/HNGĐ -ST Ngày 21-7-2020 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Chu Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thị Cẩm Vân
2. Bà Nguyễn Thị Nhơn
- Thư ký phiên tòa:
Ông Trần Xuân Trường, là Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa:
Bà Dương Thị Diễm - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1020/2019/TLST-HNGĐ ngày 11/6/2019 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/6/2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 99/2020/QĐST-HNGĐ ngày 29/6/2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1972 (có mặt)
Địa chỉ: Phường 12, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn:
Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971 (vắng mặt)
Địa chỉ: Phường 14, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai và các biên bản tại Tòa án, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn D trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị L tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1992, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường 14, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 69, quyển số 01 ngày 06/11/1992.
Thời gian đầu ông và bà L chung sống bình thường, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm, lối sống, công việc, kinh tế và cách nuôi dạy con cái dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã đôi khi xảy ra xô xát. Ông bà đã cố gắng hòa giải để hàn gắn với nhau nhưng vợ chồng vẫn không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, mâu thuẫn ngày càng gay gắt nên ông bà đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể nào giải quyết được, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng vợ chồng quay về đoàn tụ là không thể nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà L để sớm ổn định lại cuộc sống.
Về con chung: Ông D khai ông và bà L có 01 người con chung tên Nguyễn D Thắng, sinh ngày 19/12/1997 (đã trưởng thành).
Về tài sản chung: Ông D khai ông và bà L không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông D khai ông và bà L không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phía bị đơn – bà Nguyễn Thị L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập lên Tòa án làm bản tự khai, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng trong suốt thời gian Tòa án giải quyết vụ án bà L vẫn không đến Tòa để làm việc và cũng không có bất kỳ ý kiến phản hồi nào bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn D vẫn giữ các nguyên ý kiến và yêu cầu như trên. Bị đơn – bà Nguyễn Thị L vắng mặt không lý do.
Tại phần tranh luận, nguyên đơn không có ý kiến tranh luận.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
* Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán:
Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể: Thẩm phán xác định, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án, xác định vụ kiện thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát thực hiện theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân. Tuy nhiên còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự.
* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
* Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay bị đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
* Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí, nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Quan hệ tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn D và bà nguyễn Thị L là tranh chấp về ly hôn. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bị đơn – bà Nguyễn Thị L có địa chỉ cư trú tại 155/9 Phan Văn Trị, Phường 14, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo nội dung kết quả cung cấp chứng cứ ngày 27/6/2019 của Công an Phường 14, quận Bình Thạnh, có cơ sở xác định bà Nguyễn Thị L có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ trên và hiện đang cư trú tại địa chỉ trên. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn – bà Nguyễn Thị L đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm lần 01 vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 29/6/2020 và lần 02 vào lúc 08 giờ 00 ngày 21/7/2020 nhưng bà L vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành mở phiên tòa theo quy định.
Về yêu cầu của đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân:
Quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị L được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được UBND Phường 14, quận Bình Thạnh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 69, quyển số 01, ngày 06/11/1992, nên xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Qua các lời khai của ông D có trong hồ sơ vụ án đều khẳng định tình trạng hôn nhân giữa ông và bà L đã đến mức trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn. Nguyên nhân chính là do bất đồng về quan điểm, lối sống, công việc và cách nuôi dạy con cái dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã đôi khi xảy ra xô xát và ông bà đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Ông D khẳng định hiện ông không còn tình cảm gì với bà L vì cả hai sống ly thân cũng đã lâu tình cảm đã bị phai nhạt, trong suốt thời gian sống ly thân ông và bà L không ai quan tâm ai, mạnh ai lo cuộc sống của người đó.
Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ lúc thụ lý vụ án cho đến thời điểm xét xử, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bà L đến Tòa án để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự nhưng bà L đều từ chối nhận văn bản của Tòa án mà không cho biết lý do. Trong đó có hai lần triệu tập hợp lệ bà L đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ nhưng bà L đều vắng mặt không lý do và cũng không có bất kỳ ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu ly hôn của ông D. Điều này thể hiện, bà L thực sự không còn quan tâm đến tình trạng hôn nhân giữa bà và ông D, không có thiện chí giải quyết mâu thuẫn vợ chồng để cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, chung tay nuôi dạy con cái.
Mặt khác, Tòa án cũng đã nhiều lần phân tích, động viên ông D quay về đoàn tụ với bà L, ông D khẳng định ông không còn tình cảm gì với bà L và do thời gian sống ly thân cũng đã lâu nên khoảng cách tình cảm vợ chồng ngày càng lớn, khả năng hàn gắn là không thể. Vì vậy, ông cương quyết giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà L.
Xét thấy, một gia đình hạnh phúc, bền vững phải được xây dựng từ thiện chí và tình cảm tự nguyện của vợ và chồng, nhưng đối với hôn nhân giữa ông D và bà L thì cả hai đều không có thiện chí tiếp tục duy trì hôn nhân. Từ các cơ sở phân tích trên, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông D và bà L đã đến mức trầm trọng, hôn nhân không đạt được mục đích. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông D.
- Về con chung: Ông D khai ông và bà L có 01 người con chung tên Nguyễn D Thắng, sinh ngày 19/12/1997 (đã trưởng thành) lời khai này cũng phù hợp với kết quả cung cấp chứng cứ ngày 12/8/2019 của Công an Phường 14, quận Bình Thạnh.
- Về tài sản chung: Ông D khai ông và bà L không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết về vấn đề tài sản chung.
- Về nợ chung: Ông D khai ông và bà L không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí:
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, ông D nộp toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b, Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57của Luật hôn nhân và Gia đình;
- Áp dụng Luật phí và lệ phí Tòa án;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Nguyễn Văn D:
Về quan hệ vợ chồng: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1972 được ly hôn với bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971.
Về con chung: Ông D và bà L có 01 người con chung tên Nguyễn D Thắng, sinh ngày 19/12/1997 (đã trưởng thành).
Về tài sản chung: Ông D khai ông và bà L không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông D khai ông và bà L không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn D phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0021027 ngày 06/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi cấn trừ ông D đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP.Hồ Chí Minh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Q.Bình Thạnh;
- Chi Cục THADS Q.Bình Thạnh;
- UBND P.14, Q.Bình Thạnh;
- Các đương sự;
- Lưu VP; Hồ sơ
Chu Thị Nguyệt
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND TP.Hồ Chí Minh; - VKSND quận Bình Thạnh; - Chi Cục THADS quận Bình Thạnh; - UBND Phường 26, quận Bình Thạnh; - Các đương sự; - Lưu VP; Hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thiện Liên Hương |