- Tranh chấp gì? "Trần Xuân C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Xuân C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: /2019/HS – PT Ngày: 27/11/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Xuân Tuấn.
Các thẩm phán: Ông Lương Đức Năm.
Ông Nguyễn Hữu Hòa.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Bình – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Phạm Hùng Vĩ - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 27 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 185/2019/HSPT ngày 01 tháng 11 năm 2019 do có kháng cáo của bị cáo Trần Xuân C đối với bản án hình sự sơ thẩm số 59/2019/HS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện GB, tỉnh Bắc Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
Trần Xuân C, sinh năm 1984; tại huyện GB, tỉnh Bắc Ninh.
HKTT và chỗ ở: Thôn CĐ, xã NT, huyện GB, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Trình độ văn hóa: 12/12;
Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam;
Tôn giáo: Không;
Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Trần Viết T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1950;
Có vợ (kết hôn lần 2) là Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1996 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2018;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại bản án phúc thẩm số 07 ngày 31/01/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xử phạt Trần Xuân C 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 22/01/2015 chấp hành xong bản án..
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/5/2019 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).
Trong vụ án còn có 02 bị cáo khác, 02 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 02/5/2019, khi Mạnh đang ở chỗ làm tại thôn Khoái Khê, xã NT, huyện GB, tỉnh Bắc Ninh thì Lực nhắn tin bằng điện thoại cho Mạnh hỏi mua 05 viên ma túy “kẹo” (ma túy tổng hợp) và bảo Mạnh mang ma túy ra thị trấn GB, huyện GB bán cho Lực. Do Mạnh không có ma túy bán nên Mạnh nhắn tin bằng điện thoại cho Tâm hỏi xem có ma túy không để lấy 05 viên để bán cho Lực. Tâm trả lời có. Sau đó Tâm điện thoại cho C và bảo “anh có kẹo (tức ma túy) không, đưa cho em 05 viên”. C trả lời “có, xuống nhà anh đưa cho”. Sau đó, Tâm đến nhà C, tại đó C đưa cho Tâm 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 05 viên nén hình tròn, màu xanh, trên mỗi viên có chữ XL. Tâm hiểu đó là ma túy nên đã cầm 05 viên ma túy trên đi đến chỗ làm của Mạnh ở thôn Khoái Khê, xã NT, huyện GB rồi đưa cho Mạnh để Mạnh đi bán ma túy cho Lực, Mạnh hiểu 05 viên nén trong túi nilon Tâm đưa là ma túy nên đã cầm lấy còn Tâm thì đi về chỗ làm. Sau đó Tâm nhắn tin bảo Mạnh giá mỗi viên ma túy là 300.000 đồng/viên, bán được bao nhiêu tiền thì về đưa cho C, C đưa cho bao nhiêu thì Mạnh và Tâm chia nhau, nếu bán được chênh lệch thì Mạnh và Tâm chia đôi. Do Mạnh không có xe nên Tâm bảo Chu Văn Hoàng ở thôn Duyện Dương, xã Phú Hòa, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, đi xe mô tô đến chở Mạnh đi bán ma túy cho Lực ở thị trấn GB, huyện GB. (Tâm và Mạnh không nói cho Hoàng biết việc Mạnh đi bán ma túy). Trong khi Mạnh đang bán ma túy cho Lực thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: 03 (ba) viên nén màu xanh hình tròn có chữ XL để trong túi nilon màu trắng mà Mạnh đang cầm ở tay trái được cho vào phong bì thư niêm phong ký hiệu M1; số tiền 1.200.000 đồng; 02 (hai) viên nén hình tròn có chữ XL để trong túi nilon màu trắng được cho vào phong bì thư ký hiệu M2. Ngoài ra, còn thu giữ của Mạnh 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đã qua sử dụng; thu giữ của Lực 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen loại máy đen trắng và một tờ giấy ghi các con số: 14 – 10N, 53 – 10N, 15 – 10N, 64 – 10N, 18 - 10N, 82 - 10N.
Cùng ngày 02/5/2019, Đỗ Đức Tâm và Trần Xuân C đã đến Công an huyện GB xin đầu thú.
Quá trình đầu thú, Tâm đã tự giác giao nộp 01 (một) điện thoại di động màu vàng đồng trên có chữ OPPO đã qua sử dụng.
Quá trình khám xét nhà ở của C, lực lượng Công an thu giữ: 32 viên nén hình tròn, màu xanh, mỗi viên đều có chữ XL và 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu được cho vào một phong bì thư ký hiệu M3; 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong chứa 09 (chín) viên nén hình tròn, màu xanh, mỗi viên đều có chữ XL được cho vào một phong bì thư ký hiệu M4; 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu xanh được cho vào một hộp giấy ký hiệu M5; 02 (hai) túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng và 02 (hai) túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu hồng được cho vào một phong bì thư ký hiệu M6; 55 (Năm mươi lăm) lọ nhựa màu trắng, trên có chữ APHAZIDON bên trong có chứa các viên nén hình tròn, màu hồng, trên các viên nén đều có chữ TK được cho vào một hộp giấy ký hiệu M7; 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu xanh nhạt, 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu xanh đậm được cho vào một hộp giấy ký hiệu M8; 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng được cho vào một hộp giấy ký hiệu M9. Ngoài ra, còn thu tại nền nhà phòng chứa đồ của C: 01 (một) búa đầu bằng kim loại, cán gỗ; 01 (một) thìa bằng nhựa, màu đen; 01 (một) cục gỗ hình chữ nhật; 01 (một) máy xay sinh tố màu hồng, trên có chữ LONT đã qua sử dụng; 01 (một) dao lam; 01 (một) hộp sắt hình tròn trong có chứa 13 (mười ba) cục kim loại hình tròn rông giữa và 20 (hai mươi) cục kim loại hình khối một đầu to một đầu nhỏ; 01 (một) khối kim loại hình tam giác; 01 (một) quạt điện tự chế có dây kim loại xoắn dạng lò xo xung quanh; 01 (một) điện thoại di động Nokia và số tiền 3.300.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định số 415/KLGĐMT-PC09 ngày 02/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
- 03 (ba) viên nén hình tròn màu xanh, mặt viên nên có chữ "XL" bên trong phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng 0,971 gam; Có tìm thấy thành phần chất ma túy Methamphetamine dạng vết trong mẫu vật gửi giám định.
- 02 (hai) viên nén hình tròn màu xanh, mặt viên nén có chữ "XL" bên trong phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng 0,0644 gam; Có tìm thấy thành phân chất ma túy Methamphetamine dạng vết trong mẫu vật gửi giám định.
Ngày 08/7/2019, cơ quan CSĐT Công an huyện GB có công văn số 3394 đề nghị Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh giải thích rõ nội dung kết luận có chất ma túy Methamphetamine ở dạng “vết” đối với 05 (năm) viên nén hình tròn màu xanh trong bản kết luận 415/KLGD - PC09 ngày 02/5/2019.
Tại công văn số: 222/PC09 ngày 15/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh đã trả lời như sau: “Lượng ma túy Methamphetamine ở dạng vết trong mẫu vật gửi giám định 05 (năm) viên nén hình tròn màu xanh rất nhỏ, dưới giới hạn định lượng của phương pháp giám định, không đủ cơ sở để xác định khối lượng mà chỉ xác định được ở dạng vi vết".
Tại bản kết luận giám định số 415A/KLGĐMT-PC09 ngày 02/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
+ Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M3 có khối lượng 0,1426 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine;
Các chất trong các phong bì thư niêm phong ký hiệu M4, M5, M6, M7, M8, M9 và 32 (ba mươi hai) viên nén hình tròn, màu xanh, mỗi viên đều có chữ XL trong phong bì thư niêm phong M3 không có thành phần ma túy.
Với nội dung trên, tại Bản án sơ thẩm số 59/2019/HS-ST ngày 20/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện GB đã tuyên bố bị cáo Trần Xuân C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38:
Xử phạt Trần Xuân C 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/5/2019.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên tội danh và hình phạt đối với 02 bị cáo khác, xử lý vật chứng, quyết định tạm giam để bảo đảm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/10/2019, bị cáo Trần Xuân C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội của mình như án sơ thẩm đã tuyên xử là đúng người, đúng tội, không oan. Tuy nhiên bị cáo cho rằng mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là quá nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo, vì vậy bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hiện quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá hành vi phạm tội cùng nhân thân của bị cáo đã đề nghị HĐXX: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát chỉ đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tội danh: Lời khai của bị cáo Trần Xuân C tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Ngày 02/5/2019, giữa Tâm và Mạnh đã có sự trao đổi thỏa thuận với nhau từ trước về việc mua bán ma túy, do vậy Tâm đã đi lấy 05 viên ma túy có khối lượng 0,1615 gam, có thành phần Methamphetamine từ chỗ C sau đó mang về đưa cho Mạnh để Mạnh để bán cho Nguyễn Văn Lực. Khi Mạnh đang có hành vi bán trái phép 02 (hai) viên ma túy có khối lượng 0,0644 gam có thành phần Methamphetamine cho Nguyễn Văn Lực thì bị bắt quả tang. Ngoài ra, Mạnh còn tàng trữ trên người 03 viên ma túy có khối lượng 0,0971 gam, có thành phần Methamphetamine, đây là số ma túy Mạnh nhận được từ Tâm để bán cho Lực nhưng do Lực thiếu tiền nên giữ lại. Trần Xuân C có hành vi tàng trữ trái phép 0,1426 gam ma túy, loại ma túy: Methamphetamine, mục đích để C sử dụng do bản thân nghiện chất ma túy. Do vậy hành vi của bị cáo Trần Xuân C đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 như bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Ma túy là chất bị Nhà nước cấm sử dụng bởi vì nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến con nghiện mà là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải sửa bản thân mà tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó, cần xử lý nghiêm bằng luật hình sự để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Xuân C, HĐXX nhận thấy: Tòa án cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt đã xem xét đầy đủ nhân thân, tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo để quyết định xử phạt bị cáo Trần Xuân C 24 tháng tù là phù hợp, không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình thêm bất kỳ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không xem xét.
. Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Xuân C không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Xuân C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt Trần Xuân C 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/5/2019.
2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bị cáo Trần Xuân C phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Vụ 1 – TAND tối cao; TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - Phòng PC 10 - Công an tỉnh Bắc Ninh; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; - CQCSĐT; VKS; TAND; Chi cục THADS huyện GB; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Xuân Tuấn |