- Tranh chấp gì? Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "LNQ-VA"
- Tòa quyết gì? Thanh toán các khoản lương, phụ cấp ngành, thu nhập tăng thêm trong thời gian ông Q bị đơn phương thôi việc với số tiền là 700.
- Căn cứ chính? Điều 29 Luật Viên chức; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; luật Đảng bằng hình thức Cảnh cáo
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2026/LĐ-PT Ngày: 08/5/2026 V/v Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thoa
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Ngọc Tài
Bà Phạm Thị Thanh Trúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Trần Hồng Long – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 08 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 41/LĐPT ngày 18/3/2026 về việc: “Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động”.
Do Bản án lao động sơ thẩm số 1417/2025/LĐ-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2161/2026/QĐPT-LĐ ngày 03 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5946/2026/QĐPT-LĐ ngày 24 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Ngọc Q, sinh năm: 1975
Địa chỉ: Căn hộ 4.25 lô A, chung cư E, 86 đường B, phường C (phường D, Thành phố E), Thành phố Hồ Chí Minh; Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Hoàng Văn T và Luật sư Nguyễn Văn A - cùng Công ty Luật TNHH MTV H, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: 113/14B Đường G, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh; Có mặt.
- Bị đơn: Viện A Trụ sở: 273-275 đường K, phường I (Phường K, quận L), Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: bà Trương Thị Ngọc L, sinh năm: 1972, CCCD: xxxxxxxxxxxx (Giấy ủy quyền số 91/GUQ-VYDHDT ngày 08/9/2025); Vắng mặt. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư – Công ty Luật TNHH MTV Long Phan PMT, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: Phòng A1, tầng 14, tòa nhà H, 412 đường M, phường N, Thành phố Hồ Chí Minh; Có mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn – Ông Lê Ngọc Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện nộp ngày 31/10/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - ông Lê Ngọc Q trình bày: Ngày 25/01/2000, ông được Giám đốc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh tuyển dụng công chức theo Quyết định số 0207/QĐ-SYT-TCCB. Ngày 28/03/2000, Viện trưởng Viện A có Quyết định số 28/QĐ-VA về việc tiếp nhận và điều động ông Q đến nhận công tác tại Khoa Điều trị lạm thuốc - Viện A kể từ ngày 01/02/2000. Ngày 19/02/2001, Trưởng ban tổ chức chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định số 310/QĐ-TCCQ về việc bổ nhiệm ngạch công chức cho ông Q ở ngạch Bác sĩ từ ngày 01/10/2000 với hệ số lương 1,92. Trong suốt quá trình làm việc kể từ thời điểm tiếp nhận đến năm 2019, ông Q luôn hoàn thành nhiệm vụ, không có bất kỳ sai sót nào dẫn đến phải bị kỷ luật. Năm 2005, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, được tập thể tín nhiệm bầu làm Bí thư Đoàn TNCS HCM tại cơ sở từ năm 2001 đến năm 2005. Năm 2019, do ông không đồng tình với một số vấn đề xảy ra tại Viện A nên ông đã có đơn khiếu tố gửi đến các cơ quan chức năng để phản ánh việc ông Huỳnh Nguyễn L có nhiều hành vi lợi dụng chức quyền, kết bè phái, trù dập người không cùng phe cánh và tìm cách ép buộc cán bộ nghỉ việc. Từ sự việc đó, ông Q đã liên tục bị điều động từ khoa cấp cứu nội tim mạch và thần kinh sang khoa nội cơ xương khớp trong thời gian chưa đầy 3 tháng. Mặc dù bị điều động như vậy nhưng ông vẫn cố gắng làm việc và hoàn thành một cách tốt nhất.
Ngày 08/11/2021, Viện A có thông báo số 1065/TB-VA-TCCB về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối ông Lê Ngọc Q.
Ngày 23/12/2021 Viện trưởng Viện A tiếp tục ban hành quyết định số 1087/QĐ-VYDHDT về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc.
Theo như quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông Q là do ông không hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên trong năm 2019-2020, ông không có bất kỳ vi phạm nào, Viện A đã không tuân thủ về trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đối với viên chức, không mời ông tham gia cuộc họp Hội đồng kỷ luật mà tự ý ra quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng đối với ông.
Sau khi nhận quyết định, gần 3 tháng sau ông Q mới nhận được sổ bảo hiểm và số tiền gần 30.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản, nhưng ông không biết cụ thể số tiền này là những khoản nào.
Ông đã khiếu nại đến Sở Y tế đối với quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Sở Y tế đã mời hai bên lên giải quyết nhưng kết quả giải quyết không đúng với nguyện vọng của ông nên ông đã khởi kiện vì cho rằng Viện A ban hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông trước thời hạn Sở Y tế có quyết định đồng ý cho Viện A ban hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
Nay ông Lê Ngọc Q có các yêu cầu:
1. Đề nghị Tòa án tuyên hủy quyết định số 1087/QĐ-VA ngày 23/12/2021 về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc do Viện trưởng Viện A ban hành.
2. Yêu cầu Viện A phải thanh toán tổng số tiền: 400.000.000 đồng, cụ thể:
- Thanh toán số tiền 250.000.000 đồng là các khoản lương, phụ cấp ngành, thu nhập tăng thêm trong thời gian ông Q bị đơn phương thôi việc;
- Bồi thường thiệt hại danh dự, tinh thần là 100.000.000 đồng;
- Bồi thường thêm 50.000.000 đồng lương, phụ cấp ngành, thu nhập tăng thêm do ông không muốn tiếp tục quay trở lại làm việc tại Viện A.
3. Buộc Viện trưởng Viện A tổ chức xin lỗi ông dưới hình thức xin lỗi công khai.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Lê Ngọc Q vẫn giữ nguyên các yêu cầu nêu trên và bổ sung thêm yêu cầu khởi kiện, cụ thể: đề nghị Tòa buộc Viện A thanh toán thêm số tiền 450.000.000 đồng là các khoản lương, phụ cấp ngành, thu nhập tăng thêm trong thời gian ông Q bị đơn phương thôi việc. Bồi thường thêm thiệt hại danh dự, tinh thần là 250.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền ông Q yêu cầu là 1.100.000.000 đồng bao gồm: các khoản lương, phụ cấp ngành, thu nhập tăng thêm trong thời gian ông Q bị đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc là 700.000.000đồng (trong đó có 83.142.000 đồng tiền lương tính từ tháng 12/2021 đến tháng 12/2022). Bồi thường thêm thiệt hại danh dự, tinh thần là 350.000.000 đồng và Bồi thường thêm 50.000.000 đồng lương, phụ cấp ngành, thu nhập tăng thêm do ông không muốn tiếp tục quay trở lại làm việc tại Viện A. * Theo các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - Viện A có bà Trương Thị Ngọc L đại diện trình bày: Ông Lê Ngọc Q được tuyển dụng vào làm việc tại Viện A, đơn vị sự nghiệp công lập chịu sự quản lý, điều hành trực tiếp của Giám đốc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, từ ngày 01/02/2000 với thời gian tập sự 09 tháng vào ngạch Bác sĩ theo Quyết định số 0207/QĐ-SYT-TCCB của Giám đốc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh ngày 25/01/2000. Ngày 19/02/2001, Trưởng ban tổ chức chính quyển Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định bổ nhiệm ngạch công chức cho ông Lê Ngọc Q vào ngạch Bác sĩ theo Quyết định số 310/QĐ-TCCQ. Mặc dù ông Q được bổ nhiệm ngạch công chức nhưng không phải là công chức mà ông Q là viên chức làm việc tại Viện A. Trong suốt quá trình làm việc tại Viện, ông Q không giữ bất kỳ chức vụ quản lý nào của đơn vị và các chế độ làm việc đều được hưởng theo chế độ của viên chức nên ông Q được xác định là viên chức. Theo hướng dẫn của Sở Nội Vụ và Sở Y tế, Viện phải ký lại hợp đồng lao động không xác định thời hạn với tất cả các nhân viên, mọi người đã chấp hành ký hợp đồng, riêng ông Q thì Viện có yêu cầu ký hợp đồng nhưng ông không đồng ý ký. Việc Viện A đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với ông Lê Ngọc Q là do ông Q không hoàn thành nhiệm vụ trong hai năm liên tiếp (năm 2019 và năm 2020). Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 29 Luật Viên chức năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2019 về đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc: “1. Đơn vị sự nghiệp công lập được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức trong các trường hợp sau: a) Viên chức có 02 năm liên tiếp bị xếp loại chất lượng ở mức độ không hoàn thành nhiệm vụ” Như vậy, trường hợp viên chức có 2 năm liên tiếp được đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ thì đơn vị sự nghiệp công lập được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức. Viện đã không tiến hành thủ tục xử lý kỷ luật viên chức với hình thức kỷ luật buộc thôi việc tại Điều 19 Nghị định 112/2020/NĐ-CP của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ công chức viên chức mà thực hiện thủ tục đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với ông Lê Ngọc Q.
Tiêu chí để Viện A đánh giá ông Q không hoàn thành nhiệm vụ với các lý do sau:
1. Không đạt chỉ tiêu
2. Không tham gia hoạt động của Khoa, Phòng
3. Không tham gia vào các hoạt động khám bệnh từ thiện
4. Không có tinh thần tập thể nên không Khoa, Phòng nào chấp nhận ông Q tiếp tục làm việc tại khoa, phòng đó nên trả về phòng tổ chức của Viện, và Viện phải phân công lại theo chuyên môn.
Việc đánh giá, phân loại viên chức thực hiện theo đúng quy định của Nghị định 56/2015/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 88/2017/NĐ-CP, Nghị định 90/2020/NĐ-CP của Chính phủ về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức nói chung và cụ thể theo quy định về việc đánh giá, phân loại hàng quý theo hiệu quả công việc đối với cán bộ, công chức, viên chức. Viện A thực hiện Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐND ngày 16/03/2018 của Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Theo đó quy trình đánh giá, phân loại viên chức của Viện A gồm các bước sau:
- Cán bộ, công chức, viên chức làm báo cáo tự đánh giá kết quả công tác (theo Mẫu 1 quy định này)
- Cán bộ, công chức, viên chức đóng góp ý kiến cho đồng nghiệp bằng phiếu (theo Mẫu 2 quy định này)
- Cấp hoặc người có thẩm quyến nhận xét, đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức (theo Mẫu 3 quy định này)
Dựa trên hồ sơ đánh giá, phân loại viên chức năm 2019 và 2020 thì kết quả đánh giá trong các quý của năm 2019, 2020 ông Q đều được đánh giá ở mức độ không hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy, Viện A có cơ sở hợp pháp để chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông Q và Viện cũng đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định pháp luật khi thực hiện đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với ông Q. Trước khi ban hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông Q, Viện A đã hỏi ý kiến và được hướng dẫn của Sở Nội Vụ và Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 08/11/2021, Viện A có thông báo số 1065/TB-VYDHDT-TCCB về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối ông Lê Ngọc Q.
Ngày 23/12/2021, Viện A ban hành quyết định số 1087/QĐ-VYDHDT về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối ông Lê Ngọc Q.
Nay đối với các yêu cầu khởi kiện của ông Q, Viện A hoàn toàn không đồng ý do quy trình ban hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, thủ tục và và đối tượng, không vi phạm thời hạn báo trước và đặc biệt được thực hiện dưới sự hướng dẫn chi tiết, cụ thể của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn đã giải quyết đầy đủ, đúng quy định của pháp luật về các chế độ, quyền lợi của nguyên đơn sau khi chấm dứt hợp đồng làm việc, cụ thể là chi trả trợ cấp thôi việc với số tiền 28.675.944 đồng, chốt và trả sổ bảo hiểm cho ông Q. Bị đơn không có lỗi và không gây ra thiệt hại gì cho nguyên đơn về vật chất và tinh thần. * Tại Bản án lao động sơ thẩm số 141/2025/LĐ-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên: Không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Lê Ngọc Q, cụ thể: 1. Đề nghị Tòa án tuyên hủy quyết định số 1087/QĐ-VYDHDT ngày 23/12/2021 về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc do Viện trưởng Viện A ban hành. 2. Yêu cầu Viện A phải thanh toán tổng số tiền: 1.100.000.000 đồng (Một tỷ một trăm triệu đồng), cụ thể:
- Thanh toán các khoản lương, phụ cấp ngành, thu nhập tăng thêm trong thời gian ông Q bị đơn phương thôi việc với số tiền là 700.000.000 đồng;
- Bồi thường thiệt hại danh dự, tinh thần là 350.000.000 đồng;
- Bồi thường thêm 50.000.000 đồng lương, phụ cấp ngành, thu nhập tăng thêm do ông không muốn tiếp tục quay trở lại làm việc tại Viện A. 3. Buộc Viện trưởng Viện A tổ chức xin lỗi ông dưới hình thức xin lỗi công khai. Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Ngày 30 tháng 9 năm 2025, nguyên đơn - ông Lê Ngọc Q nộp đơn kháng cáo toàn bộ Bản án lao động sơ thẩm số 141/2025/LĐ-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh do bản án sơ thẩm chưa phản ánh đúng tình tiết khách quan của vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác so với các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp tại Tòa cấp sơ thẩm. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
- Nguyên đơn – ông Lê Ngọc Q và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là Luật sư Hoàng Văn T và Luật sư Nguyễn Văn A trình bày:
Nguyên đơn xác định lại, không kháng cáo phần bồi thường danh dự, tinh thần, phần bồi thường thêm lương, phụ cấp ngành, thu nhập tăng thêm và buộc Viện trưởng xin lỗi công khai.
Ông Q không ký loại hợp đồng làm việc nào theo Luật viên chức nên ông Q không phải là viên chức vì theo quy định tại Điều 2 Luật Viên chức và Điều 18 Nghị định 115/2020 để được công nhận là viên chức thì phải đáp ứng ít nhất hai điều kiện: ký hợp đồng làm việc và có quyết định bổ nhiệm vào hạng chức danh nghề nghiệp. Do ông Q không phải là viên chức nên Viện không thể áp dụng toàn bộ quy trình xử lý chấm dứt hợp đồng với ông Q theo luật viên chức.
Tòa cấp sơ thẩm xác định quan hệ lao động giữa ông Q và Viện A là hợp đồng lao động không xác định thời hạn nhưng lại áp dụng Luật viên chức chấm dứt hợp đồng lao động với ông Q là không phù hợp, mà quan hệ lao động giữa ông Q và Viện phải được điều chỉnh bởi Bộ luật lao động. Đối chiếu với quy định pháp luật lao động thì quy trình chấm dứt hợp đồng lao động với ông Q không phù hợp, cụ thể: lý do chấm dứt không đúng theo Khoản 1 Điều 36 Bộ luật lao động năm 2019, vi phạm thời hạn báo trước cho người lao động theo Khoản 2 Điều 36 Bộ luật lao động năm 2019 (bà L ký Thông báo chấm dứt hợp đồng lao động số 1065 ngày 08/11/2021 nhưng lúc này bà L chưa được ủy quyền, Giấy ủy quyền cho bà L lập ngày 22/12/2021) nên Thông báo này không có giá trị.
Từ những căn cứ nêu trên, Viện A đơn phương chấm dứt hợp đồng với ông Q là trái pháp luật nên phải chịu hậu quả do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động năm 2019. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn là Luật sư Phan Mạnh Thăng trình bày:
Ông Q là viên chức nên để đảm bảo quyền lợi của ông Q, Viện đã gửi Thông báo số 289/TB-VA ngày 29/4/2021 yêu cầu triển khai ký hợp đồng làm việc nhưng ông Q chủ động từ chối không ký. Ông Q hai năm liên tiếp bị đánh giá ở mức độ không hoàn thành nhiệm vụ. Viện đã tuân thủ đúng quy định về trình tự thủ tục chấm dứt: Lấy ý kiến của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh và Thông báo chấm dứt hợp đồng làm việc với ông Q đúng qui định tại Khoản 2 Điều 29 Luật Viên chức năm 2010.
Việc bà L ký Thông báo chấm dứt đúng quy định pháp luật. Bà L là người phụ trách Khoa TMTK nên các văn bản thuộc lãnh vực Phòng thì bà L được quyền ký theo Quyết định số 500/QĐ-VYDHDT ngày 29/7/2019 và tại Phiếu trình 3700 ngày 08/11/2021 của Phòng Tổ chức cán bộ có nội dung bút phê của giám đốc phân công cho bà L ký Thông báo chấm dứt hợp đồng làm việc với ông Q. Do đó bà L ký Thông báo số 1065 ngày 08/11/2021 chấm dứt hợp đồng làm việc với ông Q là đúng quy định pháp luật. Do đó, bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở phúc thẩm như sau: Về tố tụng: Đơn kháng cáo nguyên đơn ông Lê Ngọc Q nộp trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận. Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong giai đoạn phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự; Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn - ông Lê Ngọc Q trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận. [2] Về sự có mặt của các đương sự: Ngày 06/5/2026, Hội đồng xét xử nhận được Đơn đề nghị hoãn phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án ngày 08/5/2026 (lần 2) theo quyết định số 5946/2026/QĐ-PT của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn - bà Trương Thị Ngọc L, lý do: Bà L phải tham dự Hội nghị khoa học công nghệ lần thứ XIX 2026. Lý do bà L nêu ra không phải trường hợp bất khả kháng và do phiên xử lần thứ hai nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà L theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [3] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn - ông Lê Ngọc Q. Căn cứ Quyết định số 0207/QĐ-SYT-TCCB ngày 25/01/2000 của Giám đốc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh thì ông Lê Ngọc Q được tuyển dụng và đến làm việc tại Viện A từ ngày 01/02/2000 với thời gian tập sự 09 tháng vào ngạch Bác sĩ. Ngày 19/02/2001, Trưởng ban tổ chức chính quyền Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định số 310/QĐ-TCCQ bổ nhiệm ngạch công chức cho ông Lê Ngọc Q vào ngạch Bác sĩ.
Căn cứ Nghị định 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ ban hành, quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức thì các cơ quan, đơn vị có nghĩa vụ ký kết hợp đồng làm việc đối với viên chức. Viện A đã ban hành Thông báo số 289/TB-VA ngày 29/4/2021 về việc rà soát, ký hợp đồng làm việc đối với viên chức toàn Viện. Toàn bộ 215 công chức, viên chức và nhân viên của Viện đã hoàn thành việc ký hợp đồng làm việc. Viện đã nhiều lần thông báo bằng văn bản, gửi thư mời và lập biên bản làm việc giải thích về việc cần thiết ký kết hợp đồng làm việc không xác định thời hạn theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 22 Bộ luật lao động nhưng ông Q không đồng ý ký. Tuy nhiên, ông Q vẫn tiếp tục làm việc tại Viện A và được Viện đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cũng như thanh toán đầy đủ tiền lương hàng tháng cho ông Q đến tháng 12/2021. Do đó, có cơ sở xác định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động đã phát sinh và ông Q làm việc tại Viện theo loại hợp đồng lao động không xác định thời hạn, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 25 Luật viên chức năm 2010 và các quy định của Bộ luật lao động như nhận định của Tòa cấp sơ thẩm là có căn cứ.
Viện A là đơn vị sự nghiệp công lập chịu sự quản lý, điều hành của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Q đã được tuyển dụng công chức và là bác sỹ tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập nên căn cứ vào Khoản 3 Điều 42, Khoản 1 Điều 43 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức quy định: Viên chức được bổ nhiệm giữ các vị trí trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập mà pháp luật quy định là công chức khi bổ nhiệm vào ngạch công chức tương ứng với vị trí việc làm phải hoàn thiện tiêu chuẩn của ngạch được bổ nhiệm, đồng thời được giữ nguyên chức danh nghề nghiệp được bổ nhiệm, được hưởng tiền lương và các chế độ khác như viên chức của đơn vị sự nghiệp công lập bổ nhiệm vào các vị trí việc làm được pháp luật quy định là công chức… Đối với viên chức được tuyển dụng trước ngày 01/7/2003, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm tiến hành các thủ tục để ký hợp đồng làm việc không xác định thời hạn đối với viên chức... Do đó, ông Q được xác định là viên chức và thực hiện các chế độ, chính sách theo Luật viên chức năm 2010 (Sửa đổi, bổ sung năm 2019).
Xét, tính hợp pháp của quyết định chấm dứt hợp đồng làm việc số 1087/QĐ-VYDHDT ngày 23/12/2021 của Viện A:
Về thẩm quyền ký quyết định
Căn cứ vào Quyết định số 43/YTXHTB-TC ngày 24/12/1975 của Chánh phủ Cách mạng lâm thời – Bộ y tế xã hội và thương binh Quyết định thành lập Viện A trực thuộc Bộ y tế xã hội và thương binh. Căn cứ Quyết định ngày 02/3/1985 chuyển giao Viện A Thành phố Hồ Chí Minh cho Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quản lý toàn diện. Căn cứ Quyết định số 93/QĐ-UBND-TC ngày 30/6/2020 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về bổ nhiệm lại Viện trưởng Viện A trực thuộc Sở Y tế đối với ông Huỳnh Nguyễn L. Căn cứ Giấy ủy quyền số 81/GUQ-VYDHDT ngày 22/12/2021 thể hiện bên ủy quyền: Huỳnh Nguyễn L, bên nhận ủy quyền: Trương Thị Ngọc L có nội dung “bên nhận ủy quyền được thay mặt bên ủy quyền toàn quyền điều hành, tổ chức thực hiện ký ban hành Quyết định về việc chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông Lê Ngọc Q….”. Do đó, bà Trương Thị Ngọc L là Phó viện trưởng đã ký quyết định số 1087/QD-VA về việc chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông Lê Ngọc Q là đúng thẩm quyền ban hành theo quy định của Luật viên chức và Bộ luật lao động. [3.2] Về căn cứ, trình tự, thủ tục ban hành quyết định * Về quy trình đánh giá và kết quả đánh giá thi đua của Viện đối ông Lê Ngọc Q: Căn cứ Nghị định 90/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 của Chính phủ, hướng dẫn của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh về đánh giá xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức thì trình tự đánh giá, việc đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức gồm các bước như sau: Viên chức tự đánh giá, xếp loại chất lượng; Tập thể nhận xét, đánh giá; Cấp có thẩm quyền đánh giá, xếp loại chất lượng. Căn cứ vào hồ sơ đáng giá, phân loại viên chức và người lao động mà phía bị đơn cung cấp thì: Trong năm 2018, 2019 và 2020, Viện A đã tiến hành đánh giá, xếp loại viên chức đúng theo trình tự quy định, cụ thể: Ông Q đã có bản tự đánh giá, khoa đã họp và có ý kiến trên cơ sở dựa vào: Kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ; Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; Tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân và việc thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định. Tại các biên bản họp khoa các quý và cuối các năm 2018, 2019 và 2020, khoa nơi ông Q công tác đều có kết luận ông Q “Không hoàn thành nhiệm vụ” với tỷ lệ đề xuất không hoàn thành trong mỗi biên bản gần như tuyệt đối. Kết thúc mỗi năm, Viện đều ban hành các thông báo kết quả đánh giá, phân loại viên chức và người lao động gửi đến toàn thể viên chức và người lao động, trong đó có ông Q. Ông Q không khiếu nại gì về các thông báo này. Căn cứ vào Thông báo số 584/TB-VA-TCCB ngày 31/12/2018, Thông báo số 683/TB-VA-TCCB ngày 31/12/2019, Thông báo số 838/TB-VA-TCCB ngày 17/12/2020 về việc kết quả đánh giá, phân loại viên chức và người lao động thì cả 03 năm 2018, 2019 và 2020 thì ông Q đều thuộc diện lao động loại không hoàn thành nhiệm vụ.
Ngoài ra, với tư cách đảng viên ông Q cũng liên tục bị tập thể chi bộ, chi ủy chi bộ và Đảng ủy Viện đánh giá “không hoàn thành nhiệm vụ” nhiều năm liền từ năm 2018 đến năm 2020. Trong năm 2019, ông Q còn bị xử lý kỷ luật Đảng bằng hình thức Cảnh cáo theo Quyết định số 36-QĐ/ĐU ngày 25/4/2019 của Đảng ủy Viện A; Quyết định số 16-QĐ/UBKTĐU ngày 15/10/2019 của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Sở Y tế; và Quyết định số 453-QĐ/UBKTTU ngày 28/8/2020 của Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ những căn cứ nêu có cơ sở xác định ông Lê Ngọc Q không hoàn thành nhiệm vụ trong 02 năm liên tiếp; bị xử lý kỷ luật Đảng bằng hình thức Cảnh cáo, thể hiện sự vi phạm về phẩm chất, ý thức tổ chức kỷ luật; đồng thời không hợp tác ký kết hợp đồng làm việc theo Nghị định 115/2020/NĐ-CP nên Viện A đánh giá xếp loại ông Q không hoàn thành nhiệm vụ trong 02 năm liên tiếp như nhận định của Tòa cấp sơ thẩm là có căn cứ.
* Về căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc
Theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) quy định:“đơn vị sự nghiệp công lập được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức trong trường hợp viên chức có 02 năm liên tiếp bị phân loại đánh giá ở mức không hoàn thành nhiệm vụ”.
Tại khoản 2 Điều 29 Luật Viên chức cũng quy định rõ: “Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập phải báo cho viên chức biết trước ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng làm việc không xác định thời hạn ….đối với viên chức do cơ quan quản lý đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tuyển dụng, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc do người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quyết định sau khi có sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan quản lý đơn vị sự nghiệp công lập”.
Như đã phân tích ở phần trên, trong 02 năm liên tiếp ông Q bị xếp loại đánh giá ở mức không hoàn thành nhiệm vụ,
Trước khi quuyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông Q, Viện đã thực hiện đầy đủ quy trình, gửi các văn bản xin ý kiến Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh và khi được Sở Y tế cũng như Sở Nội vụ hướng dẫn, đồng ý bằng các văn bản số 5289/SYT-TCCB ngày 11/9/2020; 7433/SYT-TCCB ngày 12/11/2020; 914/SYT-TCCB ngày 18/02/2021, 2039/SYT-TCCB ngày 12/4/2021 và số 1888/SNV-CCVC ngày 15/5/2020
Ngày 05/11/2021, Ban chấp hành Đảng bộ Viện A ban hành Nghị quyết số 89-NQ/ĐU thống nhất thông qua chủ trương đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông Lê Ngọc Q. Ngày 08/11/2021, sau khi có Thông báo số 1060/TB-VYDHDT kết luận phiên họp của cán bộ viên chức chủ chốt thì 100% thống nhất thông qua nội dung Thông báo về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông Lê Ngọc Q, Viện A đã ban hành thông báo số 1065/TB-VYDHDT-TCCB về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông Lê Ngọc Q. Ngày 16/12/2021, và Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đã có biên bản làm việc, Sở Y tế đề nghị Viện thực hiện chấm dứt Hợp đồng làm việc đối với ông Lê Ngọc Q. Do đó, Viện trưởng Viện A ông Huỳnh Nguyễn L đã ủy quyền cho Phó Viện trưởng Trương Thị Ngọc L ban hành quyết định số 1087/QĐ-VYDHDT ngày 23/12/2021 về việc chấm dứt hợp đồng làm việc với ông Lê Ngọc Q là không vi phạm thời hạn báo trước ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng làm việc không xác định thời hạn và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 29 Luật Viên chức. Ngày 31/12/2021, Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Công văn số 9970/SYT-TCCB thông báo về việc “Sở y tế thống nhất Viện A đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với ông Lê Ngọc Q, viên chức có 02 năm liên tiếp (năm 2019, năm 2020) được phân loại đánh giá ở mức độ không hoàn thành.” Tuy Quyết định số 1087/QĐ-VYDHDT ngày 23/12/2021 của Viện được ban hành trước công văn của Sở Y tế nhưng không ảnh hưởng đến tính hợp pháp trong quy trình, thủ tục thực hiện chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông Q. Căn cứ vào công văn số 4390/SYT-TCCB ngày 08/6/2023 trả lời xác minh kèm bản sao văn bản số 5465/SYT-TCCB ngày 11/8/2022 của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định ông Lê Ngọc Q chịu sự quản lý trực tiếp của Viện A và Sở Y tế đã có ý kiến tại buổi họp ngày 16/12/2021 đề nghị Viện thực hiện chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông Lê Ngọc Q. Như vậy, sau khi được Sở Y tế có ý kiến, Viện A mới ban hành Quyết định về việc chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông Lê Ngọc Q theo đúng quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 29 Luật Viên chức. Như vậy, có cơ sở xác định Viện A ban hành Quyết định số 1087/QĐ-VYDHDT ngày 23/12/2021 về việc chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông Lê Ngọc Q là có căn cứ, đúng thẩm quyền trình tự, thủ tục theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36 Bộ luật lao động năm 2019, điểm a khoản 1 Điều 29 Luật viên chức năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2019). Bà L là người phụ trách Khoa TMTK nên các văn bản thuộc lãnh vực Phòng thì bà L được quyền ký theo Quyết định số 500/QĐ-VYDHDT ngày 29/7/2019 và tại Phiếu trình số 3700 ngày 08/11/2021 của Phòng Tổ chức cán bộ có nội dung bút phê của giám đốc phân công cho bà L ký Thông báo chấm dứt hợp đồng làm việc với ông Q. Do đó, bà L ký Thông báo số 1065 ngày 08/11/2021 chấm dứt hợp đồng làm việc với ông Q là đúng quy định pháp luật. Phía nguyên đơn cho rằng bị đơn vi phạm thời hạn báo trước do thời điểm bà L ký Thông báo chấm dứt hợp đồng làm việc số 1065 ngày 08/11/2021 chưa được ủy quyền là không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét.
Từ những nhận định nêu trên, Tòa cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Q về việc: tuyên hủy Quyết định số 1087/QĐ-VA ngày 23/12/2021 về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc do Viện trưởng Viện A ban hành, yêu cầu Viện A phải thanh toán các khoản lương, phụ cấp ngành, thu nhập tăng thêm trong thời gian ông Q bị đơn phương thôi việc là có căn cứ.
Đối với các yêu cầu về bồi thường thiệt hại danh dự, tinh thần với tổng số tiền: 1.100.000.000 đồng và yêu cầu buộc Viện trưởng Viện A tổ chức xin lỗi ông dưới hình thức xin lỗi công khai, ông Q không kháng cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 1417/2025/LĐ-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ cở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu kháng cáo của ông Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 1417/2025/LĐ-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về án phí
Án phí lao động sơ thẩm:
Ông Lê Ngọc Q được miễn án phí lao động sơ thẩm theo quy định pháp luật. Viện A không phải chịu án phí lao động sơ thẩm.
. Án phí lao động phúc thẩm:
Nguyên đơn - ông Lê Ngọc Q được miễn án phí lao động phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 36 của Bộ luật lao động năm 2019;
- Căn cứ khoản 2 Điều 25; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 29; khoản 1 Điều 45 Luật Viên chức 2010 (sửa đổi, bổ sung 2019);
- Căn cứ các Điều 19, 20, 21 và 22 Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 của Chính phủ về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức.
- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn-ông Lê Ngọc Q, giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 1417/2025/LĐ-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh. 1. Không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Ngọc Q, cụ thể: 1.1. Đề nghị Tòa án tuyên hủy quyết định số 1087/QĐ-VA ngày 23/12/2021 về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc do Viện trưởng Viện A ban hành. 1.2. Yêu cầu Viện A phải thanh toán tổng số tiền: 1.100.000.000 đồng (Một tỷ một trăm triệu đồng), cụ thể:
- Thanh toán các khoản lương, phụ cấp ngành, thu nhập tăng thêm trong thời gian ông Q bị đơn phương thôi việc với số tiền là 700.000.000 đồng;
- Bồi thường thiệt hại danh dự, tinh thần là 350.000.000 đồng;
- Bồi thường thêm 50.000.000 đồng lương, phụ cấp ngành, thu nhập tăng thêm do ông không muốn tiếp tục quay trở lại làm việc tại Viện A. 1.3. Buộc Viện trưởng Viện A tổ chức xin lỗi ông dưới hình thức xin lỗi công khai. 2. Về án phí 2.1. Án phí lao động sơ thẩm:
- Ông Lê Ngọc Q được miễn án phí lao động sơ thẩm.
- Viện A không phải chịu án phí lao động sơ thẩm. 2.2. Án phí lao động phúc thẩm: Nguyên đơn- ông Lê Ngọc Q được miễn án phí lao động phúc thẩm. 3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.