vanban.org

Bản án 89/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Bị cáo Lò Tuấn A phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về mức hình phạt: Xử phạt Bị cáo 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 29/01/2026). Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Tuấn A - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Lò Tuấn A phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2026/HS-ST
Ngày: 26/5/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đồng Thị Nhung

Ông Lò Chính Sẹn

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thúy Hằng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Công an xã Pu Nhi, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2026/TLST- HS ngày 24 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2026 đối với Bị cáo:

Họ và tên: Lò Tuấn A; Tên gọi khác: Không có tên gọi khác; Giới tính: Nam; Sinh năm: 18/11/2003 tại Điện Biên; Nơi cư trú: Tổ 3, xã N, tỉnh Điện Biên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông nghiệp. Trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; Con ông: Lò Văn Y - Sinh năm 1982 (Đã chết) và con bà: Lò Thị C – Sinh năm 1983; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: chưa bị Tòa án nào xét xử; Chưa bị cơ quan nào xử phạt vi phạm hành chính.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/01/2026 tại Phân Trại tạm giam Na Son sau đó chuyển sang tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

* Người bào chữa: Bà Cao Thị B - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 29/01/2026, Lò Tuấn A đi bộ từ nhà tại tổ 3, xã N, tỉnh Điện Biên đến khu vực đường thuộc tổ 4, xã N, tỉnh Điện Biên, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, Tuấn A gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Thái tự giới thiệu tên là Đ nhà ở bản B, xã N, tỉnh Điện Biên 01 gói Methamphetamine với giá 100.000 đồng. Mua xong, Tuấn A cất gói ma tuý vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi bộ về nhà. Hồi 12 giờ 50 phút cùng ngày, khi Tuấn A đang đi bộ trên đường thuộc tổ 4, xã Na S, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an xã Na S, tỉnh Điện Biên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên trái Tuấn A đang mặc 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứa 03 viên nén màu hồng nghi Methaphetamine có khối lượng 0,3 gam.

Tại biên bản làm việc về việc mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy; niêm phong mẫu giám định và niêm phong vật chứng, đồ vật, tài liệu còn lại ngày 29/01/2026 đã xác định như sau: 03 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,3 gam, cho vào một túi nilon màu trắng, miệng túi có nẹp nhựa cố định gửi toàn bộ đến cơ quan giám định.

Tại bản kết luận giám định số 141/KL-KTHS ngày 05/02/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng gửi giám định thu giữ của Lò Tuấn A có khối lượng 0,3 gam là chất ma túy loại: Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKSKV2 ngày 23/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên truy tố bị cáo Lò Tuấn A về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo: Từ 03 năm 02 tháng tù đến 03 năm 08 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy gồm: 0,2 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau giám định, 01 mảnh nilon màu hồng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa của bị cáo Lò Tuấn A không có ý kiến tranh luận gì về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố, cho rằng Viện kiểm sát truy tố, Tòa án xét xử bị cáo là đúng người đúng tội, đúng quy định pháp luật. Vì vậy đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt Bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất có thể. Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo Tuấn A. Bị cáo Tuấn A sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Đại diện VKS có ý kiến tranh luận: VKS đã xem xét hết các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo để đề nghị mức hình phạt cho bị cáo Tuấn A. Về án phí: Theo Quyết định số 46/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên thì Tổ 3, xã N đã thoát nghèo không nằm trong danh sách các thôn bản đặc biệt khó khăn nên vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị buộc bị cáo Tuấn A chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa có ý kiến tranh luận: Vẫn giữ nguyên quan điểm không nhất trí với ý kiến của đại diện VKS đề nghị.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên. Bị cáo không có ý kiến bổ sung vào luận cứ bào chữa.

Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo Lò Tuấn A xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của Bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lò Tuấn A khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản làm việc về mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy; niêm phong mẫu giám định và niêm phong vật chứng, đồ vật, tài liệu còn lại; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định:

Hồi 12 giờ 50 phút ngày 29/01/2026, tại khu vực đường thuộc tổ 4, xã N, tỉnh Điện Biên, Lò Tuấn A bị tổ công tác Công an xã N, tỉnh Điện Biên phát hiện, bắt quả tang vì đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,3 gam Methamphetamine đ sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do bị cáo mua của một người đàn dân tộc Thái giới thiệu là Đ, nhà ở B, xã N, tỉnh Điện Biên tại khu vực đường thuộc tổ 4, xã N với số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng). Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên truy tố bị cáo Lò Tuấn A về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ sức răn đe và cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nên không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo chưa bị cáo Tòa án nào xét xử. Bị cáo chưa bị cơ quan nào xử lý vi phạm hành chính.

Sau khi xem xét hành vi phạm tội của bị cáo cùng với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính Bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, nghề nghiệp của bị cáo là nông nghiệp, không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên không có khả năng thi hành. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.

Đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo từ 03 năm 02 tháng tù đến 03 năm 08 tháng tù, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận. Người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất có thể, HĐXX sẽ căn cứ vào các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân và số gam ma túy để cân nhắc khi lượng hình.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Số Methamphetamine bị thu giữ là 03 viên nén màu hồng có khối lượng 0,3 gam đã gửi giám định toàn bộ hoàn lại 0,2 gam Methamphetamine là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Đối với 01 mảnh nilon màu hồng là công cụ dùng vào việc phạm tội xét thấy không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông dân tộc Thái tự giới thiệu tên là Đ đã bán ma túy Bị cáo nhà ở bản B, xã N, tỉnh Điện Biên. Quá trình điều tra không có người nào tên Đ ở B xã N, tỉnh Điện Biên, nên không có cơ sở điều tra làm rõ, Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Về án phí: Đối với đề nghị của người bào chữa đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Tuấn A, xét thấy bị cáo Tuấn A là người dân tộc thiểu số sinh sống tại Tổ 3, xã N, tỉnh Điện Biên. Căn cứ vào Quyết định số 46/QĐ-UBND ngày 09/01/2026 Quyết định phê duyệt danh sách thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn; xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã khu vực I, II, III giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn tỉnh Điện Biên thì tổ 3 thuộc xã Na Son không nằm trong danh sách bản khó khăn, hiện đã thoát nghèo. Vì vậy, HĐXX không có căn cứ để chấp nhận đề nghị của người bào chữa.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Buộc bị cáo Lò Tuấn A phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.

1. Về tội danh: Bị cáo Lò Tuấn A phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về mức hình phạt: Xử phạt Bị cáo 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 29/01/2026).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 0,2 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau giám định, 01 mảnh nilon màu hồng.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/5/2026).

Cỡ chữ