- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Hà Thị T- Lương Văn M"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị T được ly hôn với anh Lương Văn M.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:89/2026/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 5 - 2026 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Bình
Bà Phạm Thị Châu
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 10 TH.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - TH tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Lanh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 10 - TH xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 65/2026/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 03 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số: 1013/2026/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hà Thị T - Sinh năm: 1995
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: Thôn TB, xã TQ, tỉnh TH
- Bị đơn: Anh Lương Văn M - Sinh năm 1989
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: Thôn TB, xã TQ, tỉnh TH
Tại phiên toà vắng mặt chị T và anh M, chị Hà Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Lương Văn M vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hà Thị T trình bày: Chị và anh Lương Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 10/01/2013 tại UBND xã TX, huyện Như Xuân (Nay là xã TQ), tỉnh TH. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hoà thuận hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên bất đồng về quan điểm sống nên trong cuộc sống hay xảy ra cãi vã nhau dẫn đến cuộc sống chung không có hạnh phúc. Mâu thuẫn này cũng được hai vợ chồng nói chuyện, hòa giải nhưng không có kết quả. Kể từ tháng 6 năm 2022 vợ chồng sống ly thân nhau, trong thời gian sống ly thân không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa. cho anh M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi các cháu đến tuổi thành niên. Chị có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung với anh M mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) cho một cháu cả hai cháu là 3.000.000đ (ba triệu đồng) cho đến khi các con đến tuổi thành niên.
Về tài sản chung: Chị Hà Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Lương Văn M để làm bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của chị T nhưng anh M không có mặt nên không có lời khai của anh M và các bên không thống nhất được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - TH phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lương Văn M không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, 35 khoản 4 147, 227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 107 và 110 Luật hôn nhân và gia đình và Nghị Quyết số: 01/2024/ NQHĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử cho chị Hà Thị T được ly hôn với anh Lương Văn M. Vợ chồng có 02 con chung Lương Hoàng P; sinh ngày 22/01/2014 và Lương Hoàng N; sinh ngày 24/07/2016. Đề nghị giao cả hai cháu cho anh Lương Văn M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đến tuổi thành niên. Chị Hà Thị T cấp dưỡng nuôi con cùng anh M mỗi tháng mỗi tháng 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng) cho một cháu cả hai cháu là 3.600.000đ (ba triệu sáu trăm nghìn đồng). Chị Hà Thị T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở. Chị Hà Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Hà Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Lương Văn M. Theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - TH.
Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh Lương Văn M không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh M theo quy định tại khoản 3 Điều 210 BLTTDS.
Anh Lương Văn M đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải nhưng anh M không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 BLTTDS.
Toà án cũng đã triệu tập hợp lệ anh Lương Văn M lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng anh M vẫn không có mặt mà không có lý do. Chị Hà Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ quy định vào các Điều 227, Điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt chị Hà Thị T và anh Lương Văn M.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị T và anh Lương Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 10/01/2013 tại UBND xã TX, huyện NX (Nay là xã TQ), tỉnh TH nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân chị T và anh M thường xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến cuộc sống chung không có hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa, việc này cũng phù hợp với nội dung Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân mà Tòa án đã tiến hành thu thập. Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập anh M lên làm việc để tiến hành hòa giải, để anh M được bày tỏ quan điểm, ý kiến và nguyện vọng của mình nhưng anh M không có mặt, thể hiện anh M có ý bỏ mặc, không thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng, thời gian vợ chồng sống ly thân nhau cũng kéo dài từ năm 2022 cho đến nay như vậy hôn nhân trên thực tế không còn tồn tại. Đến thời điểm hiện tại chị T vẫn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa chị T và anh M đã lâm vào tình trạng bế tắc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Hà Thị T được ly hôn với anh Lương Văn M.
Về con chung: Chị Hà Thị T và anh Lương Văn M có 02 con chung là Lương Hoàng P; sinh ngày 22/01/2014 và Lương Hoàng N; sinh ngày 24/07/2016. Hiện nay cả hai con đang ở ổn định với anh M. Ly hôn chị T đề nghị Tòa án giải quyết giao cả hai cháu P và Nghiệp cho anh M được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con đến tuổi thành niên. cho anh M được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con đến tuổi thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền được đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình và Nghị Quyết số: 01/2024/ NQHĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hà Thị T có nguyện vọng sau khi ly hôn giao con cho anh M được trực tiếp nuôi dưỡng, chị có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh M mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) cho một cháu cả hai cháu là 3.000.000đ (ba triệu đồng). Xét về mức cấp cấp dưỡng nuôi con chung của nguyên đơn là chưa phù hợp với quy định của pháp luật và không đảm bảo theo mức 50% lương tối thiểu vùng, do đó HĐXX buộc chị Hà Thị T cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh M mỗi tháng 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng) cho một cháu cả hai cháu là 3.600.000đ (ba triệu sáu trăm nghìn đồng) cho đến khi các con đến tuổi thành niên là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật và Nghị Quyết số: 01/2024/ NQHĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Về chia tài sản chung: Chị Hà Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Lương Văn M không trình bày ý kiến về phần tài sản, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc chị Hà Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Các Điều 28, 35, 39; 147;227; 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 1 của Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản.
Căn cứ: Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 107 và Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ: Nghị Quyết số: 01/2024/ NQHĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao
Căn cứ: Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị T được ly hôn với anh Lương Văn M.
2. Về con chung: Giao hai cháu Lương Hoàng P; sinh ngày 22/01/2014 và Lương Hoàng N; sinh ngày 24/07/2016 cho anh Lương Văn M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên.
Chị Hà Thị T được quyền được đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hà Thị T cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh M mỗi tháng 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng)/một cháu, cả hai cháu là 3.600.000đ (ba triệu sáu trăm nghìn đồng) cho đến khi các con đến tuổi thành niên. Thời gian cấp dưỡng nuôi con chung tính từ tháng 06 năm 2026.
3. Về án phí: Chị Hà Thị T phải chịu án phí dân sự về việc ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Tổng cộng án phí chị T phải chịu là 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: 0001565 ngày 05 tháng 03 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh TH.
Chị Hà Thị T còn phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị T và anh M. Chị Hà Thị T và anh Lương Văn M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TH; - VKSND khu vực 10 - TH; - THADS tỉnh TH; - Các đương sự; - UBND xã TQ, tỉnh TH; - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hội thẩm nhân dân Lê Văn Bình Phạm Thị Châu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Xuân Thành Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Xuân Thành |