vanban.org

Bản án 89/2025/ST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lô Thị S ly hôn anh Lương Văn Tr.

Về con chung: Giao cháu Lương Quỳnh Tr, sinh ngày 16/5/2012 và Lương Tuấn K, sinh ngày 01/9/2017 cho chị Lô Thị S nuôi dưỡng cho đến lúc các cháu Tr và cháu K đủ 18 tuổi, trưởng thành. Sau khi ly hôn anh Tr có quyền thăm non, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con, khi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lô Thị S ly hôn anh Lương Văn Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CON CUÔNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2025/ST - HNGĐ
Ngày 30/5/2025.
V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Bảo.

Các hội thẩm nhân dân: Bà La Thị Huyền và bà Bùi Thị Hằng.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 55/2025/TLST - HNGĐ ngày 17/3/2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lô Thị S, sinh năm:1988.

Bị đơn: Anh Lương Văn Tr, sinh năm 1983.

Cùng địa chỉ: Bản P, xã Đ P, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

Chị S có mặt, anh Tr vắng mặt không có lý do.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Lô Thị S: Ông Phạm Thế Kỷ - Trợ giúp viên thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời Tr bày tại Tòa án và tại phiên tòa chị Lô Thị S Tr bày: Chị và anh Lương Văn Tr kết hôn với nhau vào ngày 17/6/2009 tại Ủy ban nhân dân xã M Đ, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do tính cách, quan điểm sống không phù hợp, anh Tr thường xuyên uống rượu say dẫn đến vợ chồng thường xuyên xẩy ra cãi vã. Việc vợ, chồng mâu thuẫn đã được hai bên gia đình khuyên nhủ, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả và vợ, chồng đã ly thân từ cuối năm 2022 đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Lương Văn Tr.

Về con chung: Chị và anh Lương Văn Tr có 02 người con chung với nhau là Lương Quỳnh Tr, sinh ngày 16/5/2012 và Lương Tuấn K, sinh ngày 01/9/2017. Nay ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay chị và anh Lương Văn Tr không nợ một tổ chức hay cá nhân nào.

Quá Tr giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm anh Lương Văn Tr đều vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá Tr giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Áp dụng: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Các Điều 58; 81; 82; 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho chị Lô Thị S được ly hôn anh Lương Văn Tr, giao con chung cho chị S nuôi dưỡng, về tài sản chị S không yêu cầu nên không xem xét, chị S phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Lô Thị S có ý kiến: Tình cảm hôn nhân giữa chị Lô Thị S và anh Lương Văn Tr không hạnh phúc vì anh Tr là người nghiện rượu, không quan tâm đến gia đình, vợ và con, vợ chồng ly thân đã lâu. Nay đề nghị HĐXX cho chị S được ly hôn anh Lương Văn Tr, giao con chung cho chị Lô Thị S nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, bị đơn có địa chỉ tại huyện Con Cuông nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất ngày 15/5/2025 bị đơn anh Lương Văn Tr vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã ra Quyết định hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa, Tòa án đã niêm yết Quyết định hoãn phiên, trong Quyết định hoãn phiên tòa, Tòa án có ấn định thời gian mở lại phiên tòa để anh Tr biết và thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, nhưng anh Tr vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Tr là đúng với quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Lô Thị S và anh Lương Văn Tr có đăng ký kết hôn tại UBND xã Mậu Đức, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyên là hôn nhân hợp pháp. Quá Tr chung sống do các bên không biết yêu thương, tôn trọng lấn nhau, anh Tr thường xuyên uống rượu say dẫn đến vợ chồng thường xuyên xẩy ra cãi vã. Theo chị S việc vợ chồng mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả và vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2022 đến nay. Xét tình cảm vợ chồng giữa chị Lô Thị S và anh Lương Văn Tr thật sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lô Thị S như lời người bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn là có căn cứ.

Về con chung: Chị Lô Thị S và anh Lương Văn Tr có 02 người con chung với nhau là Lương Quỳnh Tr, sinh ngày 16/5/2012; Lương Tuấn K, sinh ngày 01/9/2017. Nay ly hôn chị S có nguyện vọng được nuôi con. Xét thấy khi cha, mẹ ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về vật chất lẫn tinh thần, đồng thời theo nguyện vọng của con trên 07 tuổi là được ở với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Như vậy nguyện vọng của chị S là chính đáng, thể hiện tinh thần và trách nhiệm của cha mẹ dành cho con và phù hợp với nguyên vọng của các con. Để đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho các cháu. Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cháu Lương Quỳnh Tr, sinh ngày 16/5/2012 và Lương Tuấn K, sinh ngày 01/9/2017 cho chị Lô Thị S trực tiếp nuôi dưỡng như lời người bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn là hợp lý.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lô Thị S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung: Chị Lô Thị S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét và hiện nay chị không nợ một tổ chức hay cá nhân nào. Nếu sau nay anh Lương Văn Tr có khởi kiện thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Chị Lô Thị S phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Các Điều 58; 81; 82; 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207; 227; 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lô Thị S ly hôn anh Lương Văn Tr.

Về con chung: Giao cháu Lương Quỳnh Tr, sinh ngày 16/5/2012 và Lương Tuấn K, sinh ngày 01/9/2017 cho chị Lô Thị S nuôi dưỡng cho đến lúc các cháu Tr và cháu K đủ 18 tuổi, trưởng thành. Sau khi ly hôn anh Tr có quyền thăm non, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.

Về án phí: Áp dụng điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chị Lô Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị S đã nộp 300.000 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000771 ngày 17/3/2025. Chị S đã nộp đủ án phí ly hôn.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ