- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1. Điểm b, c khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 89/2025/HS-ST Ngày: 20/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lai Ngọc Trí
Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Hồ Thị Kim Luyến
2. Bà Trần Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Kỳ Quang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2025/HSST ngày 26 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 407/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thanh T, sinh ngày 06 tháng 6 năm 1998, tại Cà Mau. Nơi ĐKTT: Tổ C, V, xã V, huyện V, tỉnh K; Chỗ ở: Phòng số 3, nhà trọ số E, đường số C, khu V, phường A, quận N, thành phố C; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: Cao đẳng CNTT; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Thanh Tú E, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1977; Bị cáo có 01 em ruột sinh năm 2002; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: chưa; Tiền án: Chưa. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 14/12/2024 đến ngày 23/12/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N, thuộc Trại tạm giam Công an thành phố C.Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Trần Phương T1, sinh ngày 27 tháng 4 năm 2004 tại Hậu Giang. Nơi ĐKTT: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh H; Chỗ ở: Chỗ ở: Phòng số 3, nhà trọ số E, đường số C, khu V, phường A, quận N, thành phố C, Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn D, sinh năm 1969 và Huỳnh Thị T2, sinh năm 1975; Anh, chị, em ruột: có 01 người, sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: chưa; Tiền án: Chưa. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 14/12/2024 đến ngày 23/12/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N, thuộc Trại tạm giam Công an thành phố C.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Hoàng Tuấn A, sinh năm 1993
Địa chỉ: Số B, hẻm T, phường H, quận N, thành phố C. (có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
- Ông Trần Tuấn A1, sinh năm 1993
Địa chỉ: Hẻm T, phường H, quận N, thành phố C. (có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua công tác nghiệp vụ, vào lúc 19 giờ 45 phút ngày 14/12/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy - Công an quận N kết hợp Công an phường A bắt quả tang Nguyễn Thanh T tại số E, đường số D, khu V, phường A, quận N, thành phố C, khi T đang mang ma túy để bán trái phép; Cơ quan điều tra đã thu giữ những vật chứng sau: - 01 gói nilon không màu, nẹp miệng viền đỏ, chứa tinh thể không màu được để trong gói giấy trắng, quấn bên ngoài bằng băng keo màu đen (thu giữ trên nền đường cách chỗ T đứng khoảng 01 mét). Gói 1;
- 02 gói nilon không màu, nẹp miệng xanh, đều chứa tinh thể không màu để trong gói giấy màu trắng, được quấn bên ngoài bằng băng keo màu đen (thu giữ cạnh vị trí cắm chìa khóa xe mô tô Air Blade, biển số 68N1 - 149.00). Gói 2.
- 01 xe mô tô Air Blade, màu đỏ đen, biển số 68N1 - 149.00;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 16, màu xanh, seri: G6VD4HWT03 (bút lục: 108 - 109).
Tiếp tục khám xét khẩn cấp nơi ở của T tại phòng số 03, nhà T, đường số C, khu V, phường A, quận N, thành phố C, trong phòng lúc này còn có Trần Phương T1 (T1 sống chung với T) qua khám xét thu giữ tang vật gồm:
- 01 bình thủy tinh để sử dụng ma túy (đã qua sử dụng); 03 nỏ thủy tinh (đã qua sử dụng); 01 cuộn băng keo đen (đã qua sử dụng); 01 cây kéo; 10 gói nilon không màu, nẹp miệng, viền đỏ, rỗng bên trong; 01 quẹt gas; 01 đoạn ống hút hàn kín một đầu, một đầu nhọn;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13, màu đen, số seri: WWLFW3W942, sim số 0339625606 (thu giữ của Trần Phương T1). Bút lục: 52 - 53.
Tại Kết luận giám định số: 416/KL - KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng K - Công an thành phố C kết luận:
- Gói 1: 01 gói nilon không màu, nẹp miệng viền đỏ, chứa tinh thể không màu (ký hiệu M1) gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,1285 gam.
- Gói 2: 02 gói nilon không màu, nẹp miệng xanh, đều chứa tinh thể không màu (ký hiệu M2) gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,2003 gam. (bút lục: 27). Tổng khối lượng ma túy: 0,3288 gam Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận: bản thân bị cáo có sử dụng trái phép ma túy và bán trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine từ khoảng tháng 10/2024 đến khi bị bắt. Bị cáo thường mua ma túy của đối tượng tên “A G” sau đó mang về phòng trọ, khi người mua liên hệ qua mạng xã hội Zalo, bị cáo sẽ chia nhỏ ma túy tùy theo giá tiền, bị cáo Trần Phương T1 sẽ giúp bị cáo gói và quấn băng keo bên ngoài để bị cáo mang giao bán cho người mua. Bị cáo đã bán trái phép ma túy cho người tên L, Hồ N1, Thiên B, T, L1 (Lilo do bị cáo T1 giới thiệu); 04 lần bán trái phép cho Lê Hoàng Tuấn A và Trần Tuấn A1. Khoảng 19 giờ ngày 14/12/2024, Trần Tuấn A1 tiếp tục liên hệ với bị cáo qua Zalo mua 500.000 đồng ma túy, bị cáo đồng ý bán và hẹn giao ma túy tại khu V, phường A, quận N. Sau đó, bị cáo cầm 01 gói ma túy trên tay phải và dán 02 gói ma túy cạnh vị trí cắm chìa khóa xe mô tô, biển số 68N1-149.00 rồi mang đi giao bán cho Lê Hoàng Tuấn A và Trần Tuấn A1; tuy nhiên, khi đi đến đường số D, khu vực 2, phường A do nhìn thấy có lực lượng Công an nên bị cáo đã ném gói ma túy cầm trên tay phải xuống nền đường nhưng bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ gói ma túy này cùng với 02 gói ma túy còn lại. Tiền thu lợi bất chính bị cáo đã dùng cho sinh hoạt hàng ngày và mua ma túy sử dụng (bút lục: 58-68).
Bị cáo Trần Phương T1 cũng thừa nhận đã giúp bị cáo T quấn băng keo đen quanh các gói ma túy để T đi giao bán, ngày 14/12/2024 bị cáo cũng quấn băng keo các gói ma túy cho bị cáo T mang giao bán cho Lê Hoàng Tuấn A và Trần Tuấn A1 thì bị bắt. Ngoài ra, bị cáo còn giới thiệu người có tên L1 cho bị cáo TT bán trái phép ma túy 01 lần vào ngày 30/11/2024. Bị cáo không được trả tiền công nhưng được bị cáo T đã chi trả mọi chi phí sinh hoạt và tiền thuê phòng trọ (bút lục: 69 - 80).Đối với Lê Hoàng Tuấn A và Trần Tuấn A1 đều khai: cả 02 đã cùng nhau đi mua trái phép ma túy của bị cáo T 04 lần để sử dụng, giá mỗi lần mua từ 500.000 đồng đến 900.000 đồng. Ngày 14/12/2024, Lê Hoàng Tuấn A chở Trần Tuấn A1 tiếp tục liên hệ mua ma túy của bị cáo T; khi cả 02 đi đến điểm hẹn để nhận ma túy thì bị cáo T đã bị bắt nên chưa nhận được ma túy (bút lục 81- 86).
Đối với xe mô tô hiệu Air Blade, màu đỏ đen, biển số 68N1 - 149.00, qua xác minh xe mô tô này do Nguyễn Thanh T đứng tên chủ sở hữu, bị cáo sử dụng xe này thực hiện hành vi phạm tội (bút lục: 113).
Đối với đối tượng tên A G1 - bán trái phép ma túy cho bị cáo T, do bị cáo không biết rõ tên thật và địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thanh T và Trần Phương T1 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội là tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật. Về nhân thân: 02 bị cáo T và T1 chưa có tiền án, tiền sự.
Tại bản Cáo trạng số: 105/CT-VKSNK ngày 24 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ đã truy tố các bị cáo: Nguyễn Thanh T và Trần Phương T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo các điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung cáo trạng, có phân tích hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tộitội “Mua bán trái phép chất ma túy” xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm tù.- Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 tuyên bố bị cáo Trần Phương T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” xử phạt bị cáo Trần Phương T1 từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù.- Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong số: 416G1, 416G2/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng KTHS; 01 bình thủy tinh để sử dụng ma túy (đã qua sử dụng); 03 nỏ thủy tinh (đã qua sử dụng); 01 cuộn băng keo đen (đã qua sử dụng); 01 cây kéo, đã qua sử dụng; 10 gói nilon không màu, nẹp miệng, viền đỏ, rỗng bên trong; 01 quẹt gas; 01 đoạn ống hút, hàn kín một đầu, một đầu nhọn;
+ Đề nghị tịch thu sung công quỹ: 01 xe mô tô hiệu Air Blade, màu đỏ đen, biển số 68N1 - 149.00, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 16, màu xanh, seri: G6VD4HWT03, đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Thanh T); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu đen, số seri: WWLFW3W942, sim số 0339.625.606 của Trần Phương T1.
+ Trả lại cho bị cáo Trần Phương T1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng gold, số seri: G6TXK257KPHJ, sim số 0984.842.027.
* Các bị cáo tranh luận:
- Bị cáo Nguyễn Thanh T: Thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Bị cáo Trần Phương T1: Thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.[2] Hội đồng xét xử nhận thấy: Qua phần kết quả xét hỏi công khai và tranh luận tại phiên tòa, đối chiếu với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội của các bị cáo như Cáo trạng đã truy tố.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ đã truy tố các bị cáo: Nguyễn Thanh T và Trần Phương T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo các điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 là hoàn toàn chính xác và có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Xét thấy, các bị cáo Nguyễn Thanh T và Trần Phương T1 là người đã thành niên, các bị cáo có đủ nhận thức về hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước. Các bị cáo nhận thức rõ chất ma túy bị pháp luật cấm nhưng vẫn sử dụng và bán nhiều lần cho nhiều người. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.
Hành vi của các bị cáo có tính chất đồng phạm, trong đó bị cáo T là người chủ mưu, cầm đầu, còn bị cáo T1 là người giúp sức tích cực chuẩn bị ma túy cho bị cáo T bán và giới thiệu người mua ma túy cho bị cáo T. Vì vậy, cần xem xét đánh giá vai trò của bị cáo khi quyết định hình phạt. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, vì vậy cần cách ly các bị cáo một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo, cũng như phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[4] Về các tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo T có người thân là người có công với cách mạng và bản thân bị cáo có thành tích xuất sắc trong quá trình học tập nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, sớm trở thành người có ích cho xã hội.
[5] Về xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong số: 416G1, 416G2/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng KTHS; 01 bình thủy tinh để sử dụng ma túy (đã qua sử dụng); 03 nỏ thủy tinh (đã qua sử dụng); 01 cuộn băng keo đen (đã qua sử dụng); 01 cây kéo, đã qua sử dụng; 10 gói nilon không màu, nẹp miệng, viền đỏ, rỗng bên trong; 01 quẹt gas; 01 đoạn ống hút, hàn kín một đầu, một đầu nhọn;
+ Tịch thu sung công quỹ: 01 xe mô tô hiệu Air Blade, màu đỏ đen, biển số 68N1 - 149.00, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 16, màu xanh, seri: G6VD4HWT03, đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Thanh T); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu đen, số seri: WWLFW3W942, sim số 0339.625.606 của Trần Phương T1.
+ Trả lại cho bị cáo Trần Phương T1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng gold, số seri: G6TXK257KPHJ, sim số 0984.842.027.
Các vật chứng nêu trên được thu giữ trong vụ án. Hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều quản lý.
[6] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[7] Xét thấy lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào:
1.1. Điểm b, c khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thanh T phạm tộitội “Mua bán trái phép chất ma túy”.Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Thanh T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 14/12/2024.
1.2. Điểm b, c khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo: Trần Phương T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
Bị cáo Trần Phương T1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 14/12/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
+ Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong số: 416G1, 416G2/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng KTHS; 01 bình thủy tinh để sử dụng ma túy (đã qua sử dụng); 03 nỏ thủy tinh (đã qua sử dụng); 01 cuộn băng keo đen (đã qua sử dụng); 01 cây kéo, đã qua sử dụng; 10 gói nilon không màu, nẹp miệng, viền đỏ, rỗng bên trong; 01 quẹt gas; 01 đoạn ống hút, hàn kín một đầu, một đầu nhọn;
+ Tịch thu sung công quỹ: 01 xe mô tô hiệu Air Blade, màu đỏ đen, biển số 68N1 - 149.00, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 16, màu xanh, seri: G6VD4HWT03, đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Thanh T); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu đen, số seri: WWLFW3W942, sim số 0339.625.606 của Trần Phương T1.
+ Trả lại cho bị cáo Trần Phương T1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng gold, số seri: G6TXK257KPHJ, sim số 0984.842.027.
Các vật chứng nêu trên được thu giữ trong vụ án. Hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều quản lý
3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về kháng cáo: Bị cáo, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Đương sự; - Sở Tư pháp Tp. Cần Thơ; - Tòa án nhân dân Tp. Cần Thơ; - Chi cục THADS Q. Ninh Kiều; - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Cần Thơ; - Viện kiểm sát nhân dân Q. Ninh Kiều; - Phân trại tạm giam khu vực Ninh Kiều; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lai Ngọc Trí |